'Chạy'… điều kiện kinh doanh

(Baonghean) - Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, từ 1/7/2016, chỉ có 3 cơ quan gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ mới có quyền ban hành các quy định về điều kiện kinh doanh. Điều này đồng nghĩa với việc có tới 3.299 điều kiện kinh doanh tại các thông tư, quyết định của các bộ, ngành đã ban hành sẽ bị bãi bỏ và hết hiệu lực thi hành.
Ảnh minh họa. Nguồn Internet
 
Bởi vậy, dường như đang có một cuộc đua chạy nước rút âm thầm và hối hả để “chuyển khoản” các điều kiện kinh doanh từ dạng thông tư sang “sân chơi” chính thức mới là nghị định.
 
Theo thống kê của VCCI đến ngày 10/6/2016, trong tổng số 49 nghị định hướng dẫn về điều kiện kinh doanh cần ban hành mới, thì chỉ có 38 nghị định đã trình Chính phủ, còn 11 nghị định chưa trình. Trong số đó, chỉ có 24 nghị định lấy ý kiến VCCI. Nhiều dự thảo nghị định đang được tăng tốc xây dựng, trình phê duyệt, bỏ qua nhiều công đoạn trong quy trình, như  đăng dự thảo trên mạng, lấy ý kiến doanh nghiệp, đánh giá tác động, tổ chức hội thảo, thuyết minh, giải trình, tiếp thu ý kiến; thậm chí, cường độ căng tới mức có tới 44 dự thảo nghị định loại này được một cơ quan Bộ đầu mối thẩm định chỉ trong một tuần… Bởi vậy, có một số điều kiện kinh doanh cũ vẫn được “copy-paste” từ thông tư cũ vào hoặc “đẻ thêm” trong dự thảo nghị định mới…
 
Thực tế thời gian qua cho thấy, trong số 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện (mới đây thêm ngành, nghề kinh doanh thứ 268 là dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn), có 98 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; 69 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hoặc thẻ hành nghề; 31 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định, tiền ký quỹ.
 
Tương ứng là 6.475 điều kiện kinh doanh thuộc các cấp độ khác nhau, trong đó 3.299 điều kiện hiện đang quy định tại 170 thông tư, quyết định đủ loại của các bộ. Hơn nữa, vẫn còn tồn tại cả những “giấy chứng nhận của giấy chứng nhận” không cần thiết, như “giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh”; “văn bản công nhận, xác nhận đủ điều kiện...” các loại. Dừng các “điều kiện kinh doanh” –“giấy phép con” này đã và đang  tạo áp lực khắc nghiệt, khắt khe đối với DN, có thể làm nản lòng hoặc thui chột các ý tưởng kinh doanh, cũng như dễ trở thành “điều kiện” nhũng nhiễu doanh nghiệp cho một số CBCCVC thuộc các bộ, ngành, địa phương nắm quyền cấp phép và điều kiện kinh doanh…
 
Điều kiện kinh doanh là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường kinh doanh, giảm thiểu và minh bạch hóa chúng là động lực phát triển doanh nghiệp; đồng thời, phản ánh chất lượng cạnh tranh của môi trường kinh doanh; cũng như phản ánh mục tiêu, thước đo tiêu chí đánh giá chất lượng bộ máy thể chế, sự chuyên nghiệp năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, đối với doanh nghiệp nói riêng.
 
Việc loại bỏ những điều kiện kinh doanh trái luật, lỗi thời và không cần thiết tạo kỳ vọng Việt Nam sẽ có một môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thuận lợi, bình đẳng, không còn điều kiện cho nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh, nâng cao sức cạnh tranh cả cấp vĩ mô và vi mô, đáp ứng  yêu cầu hội nhập quốc tế... Việc ai đó thiếu trách nhiệm, cố tình hay vô ý muốn đưa các điều kiện kinh doanh cũ hoặc biến tấu, “nâng cấp” vào nghị định mới là đi ngược lại xu hướng trên.
 
Thực tiễn thế giới và trong nước đã và đang có nhiều bài học sâu sắc về hệ lụy đắt đỏ của các cuộc khủng hoảng nợ do thiếu kiểm soát các khoản nợ và công cụ nợ phái sinh, dưới chuẩn. Tình  trạng duy trì các điều kiện kinh doanh dưới chuẩn trong các văn bản pháp lý hợp chuẩn sẽ không chỉ hạ thấp chất lượng văn bản pháp lý, mà còn có thể kéo theo những tác hại khôn lường về sau trong thực hiện…
 
Tình trạng “tăng tốc” rút ngắn tiến độ và quy trình xây dựng nghị định kiểu… "chạy” điều kiện kinh doanh này (mà đáng nhẽ phải được chuẩn bị kỹ từ lâu) ít nhiều đã dự báo không tránh khỏi cảnh nghị định “đẻ  non”, chất lượng thấp, thậm chí ít nhiều ngầm tiếp tay dung dưỡng gánh nặng điều kiện kinh doanh, kiểu “bình mới - rượu cũ” đã, đang và sẽ tiếp tục gây bức xúc cho cộng đồng doanh nghiệp và cho cả xã hội.
 
TS.Nguyễn Minh Phong