Khúc quân hành luôn giục giã!

(Baonghean) - Hơn 40 năm gắn bó với binh nghiệp, những ngày tháng sống trong quân đội là những ngày tháng đẹp đẽ nhất đối với Thiếu tướng Nguyễn Văn Học - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 4. Trong những ngày cả nước hướng về Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Văn Học đã có những chia sẻ với phóng viên Báo Nghệ An. 

- Thưa Thiếu tướng, chiến tranh không chỉ có chia lìa, đau thương, mà còn rất đỗi hào hùng. Với riêng Thiếu tướng, những ngày tham gia chiến trận chắc có rất nhiều điều đáng nhớ, đáng tự hào?
 
Thiếu tướng Nguyễn Văn Học trò chuyện với phóng viên.
 
- Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa quên ngày mình giấu gia đình viết đơn xin nhập ngũ. Đó là những ngày mà không khí của chiến thắng Mậu Thân năm 1968 đang hết sức hào hùng và lớp lớp học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường như chúng tôi chỉ có một khát khao duy nhất là được vào miền Nam, tham gia chiến đấu giành độc lập cho đất nước. Thời điểm đó, tôi chỉ mới 17 tuổi… 11 năm trực tiếp chiến đấu, tôi được tôi luyện mình qua nhiều chiến trường ở cả hai đầu đất nước từ chiến trường Đông Nam bộ, sau đó sang Campuchia và tham gia chiến dịch biên giới Tây Bắc. Kỷ niệm sâu sắc nhất là thời điểm cùng với anh em trực tiếp tham gia vào chiến dịch Xuân Lộc (Long Khánh), tháng 4/1975.
 
Đây vốn là một cửa ngõ quan trọng để vào Sài Gòn, được quân ngụy xây dựng thành một khu vực phòng thủ trọng yếu trên tuyến phòng thủ cơ bản Biên Hòa - Bà Rịa - Vũng Tàu và là nơi hết sức ác liệt. Với thế giằng co nhau, mỗi khi phát lệnh nổ súng, địch tập trung hỏa lực rất mạnh để ngăn cản bộ đội ta không phá được hàng rào. Chúng tôi đã gặp phải khó khăn, mất rất nhiều công sức và cả tính mạng mới vượt qua được tuyến phòng thủ chắc chắn của địch. Trong trận này, một mình tôi bắn 13 quả DKZ, về nhà tai ù không nghe gì cả. Có những đồng chí khiêng cả khẩu 12ly7 (nặng 105 cân) còn nóng rực trên vai để vượt qua cửa mở, quên cả mùi thịt, da mình đang cháy khét. Tôi cũng không quên được trận đánh cuối cùng vào giải phóng Sài Gòn,  ngày 30/4/1975. Trước đó, dù đồng chí Chính ủy Sư đoàn đã nhắc tôi nói với anh em: Các đồng chí cho anh em ăn mặc sạch sẽ để chúng ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nhưng bản thân mình cũng bỡ ngỡ, đạn bom còn căng thẳng thế này. Và rồi chiến thắng đến bất ngờ, anh em chúng tôi hạnh phúc đến trào nước mắt.  
 
- Thưa thiếu tướng, thế hệ ngày trước ra trận với một tâm thế “không tiếc gì máu xương”. Còn ngày nay, trong thời bình, người lính cần phải có thêm những phẩm chất gì?
 
- Tôi rất tâm đắc với một câu văn của nhà văn xứ Nghệ Nguyễn Văn Phú: “Đời mình là một khúc quân hành”. Đã là người lính thì dù trong hoàn cảnh nào cũng phải sẵn sàng tiến lên tuyến đầu. Thời chiến, người lính trong chiến trận đã được rèn luyện thử thách trong khói lửa. Nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, người lính lại tiên phong trong mọi nhiệm vụ trọng yếu như phòng chống bão lụt, giữ vững chủ quyền biên cương của Tổ quốc. Nói hòa bình, không có nghĩa là trách nhiệm của người lính sẽ nhẹ nhàng, mà họ còn phải rèn luyện nhiều hơn, vẫn phải luôn đi đầu trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, trong xây dựng thế trận phòng thủ và trên mặt trận làm kinh tế. Những người lính là đội quân chiến đấu và là đội quân công tác, cần phải mưu - trí - dũng và sáng tạo, trí tuệ. Con cái tôi, dâu, rể đều theo nghiệp quân đội. Tôi vẫn nhắc nhở các con, ngày xưa tuổi xuân của các thế hệ đi trước chỉ ở trong chiến trận. Nay tuổi xuân các con được học hành đầy đủ phải phấn đấu, rèn luyện để trở thành người có ích cho đất nước, đóng góp được tài năng trí tuệ tiếp tục xây dựng cho quân đội và sống làm sao để xứng đáng là người lính Cụ Hồ.
 
- Những ngày này, không thể không nhắc đến truyền thống 70 năm của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thưa Thiếu tướng, nhìn lại chặng đường từ 34 chiến sỹ được thành lập từ khu rừng Trần Hưng Đạo ở Cao Bằng, quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, có đầy đủ quân chủng và làm nên những chiến thắng vang dội địa cầu. Thành tựu lớn nhất trong 70 năm qua của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và LLVT Nghệ An là gì?
 
- Quân đội ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra được nhân dân đùm bọc, che chở và lớn lên trong sự ủng hộ, tin tưởng của nhân dân. Chúng ta còn là một quân đội cách mạng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, trưởng thành, là quân đội hiện đại, sớm tiếp cận với quân sự tiên tiến của thế giới. Quan trọng hơn, quân đội Việt Nam trưởng thành bởi đã được rèn luyện qua “mưa bom, bão đạn”. Ở đó chúng ta có một đội quân hùng hậu, bất khuất, kiên trung, dám hy sinh tất cả, không tiếc gì máu xương để chiến đấu cho độc lập dân tộc, cho hòa bình, thống nhất của đất nước. 
 
Thành tựu lớn nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam trong 70 năm qua là đã giương cao lá cờ Tổ quốc mà Đảng và Bác Hồ giao; đi đầu trong công cuộc giải phóng dân tộc và ngày nay người lính lại đi đầu trong mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực sự xứng đáng với lời khen của Bác Hồ “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Tôi cũng rất tự hào bởi trong thành công chung đó có sự đóng góp không nhỏ của người lính trên quê hương Nghệ An và Quân khu 4 anh hùng. Có lẽ ít có nơi nào trên đất nước Việt Nam sinh ra được nhiều người con kiên trung như vùng đất này. Đó là những người lính dũng cảm, gan dạ, dám hy sinh, đương đầu với mọi khó khăn luôn tiên phong trên mọi chiến trường. Ngay cả khi mất mát, đau thương, bị tổn thất nặng nề vẫn cố gắng vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng và đi đầu trong công cuộc xây dựng đất nước.
 
- Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của Thiếu tướng!
 
Mỹ Hà (Thực hiện)