Nơi lưu trữ di sản Hán Nôm của dân tộc

(Baonghean) - Dưới triều Nguyễn một hệ thống các thư viện được thành lập nhằm  sao chép bảo quản nhiều tài liệu, thư tịch của Nhà nước. Ngoài Quốc sử quán ra thì triều Nguyễn còn cho thành lập các thư viện như Thư viện Nội các hay còn gọi là Đông các, Thư viện Tụ Khuê… Các thư viện này đều góp phần không nhỏ vào việc bảo quản nhiều tài liệu quý của Nhà nước hiện còn đến ngày nay.

Theo sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ cơ quan tàng bản các tài liệu của triều đình nhà Nguyễn (gồm có châu bản, các loại văn thư, sách vở…) là Thị thư viện, Thị chiếu viện và Nội hàn viện, Thượng bảo khanh được thiết lập từ Gia Long nguyên niên (1802). Chức năng của Thị thư viện và Thị chiếu viện chuyên trách việc khởi thảo, phân phát và coi giữ các chiếu dụ cùng các văn thư của triều Gia Long, Nội hàn viện trông coi những gì về thư từ riêng của vua, còn Thượng bửu khanh thì coi giữ các thứ kim ngọc bảo tỷ. Năm đầu niên hiệu Minh Mệnh (1820), đổi tên Thị thư viện làm Văn thư phòng để 3 viện Thị thư, Thị hàn và Nội hàn đều quy thuộc phòng ấy. Đến năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), đổi Văn thư phòng thành Nội các. Trong các cơ quan của Nội các thì có tào Đồ thư (còn gọi là tào Bí thư) ngoài chức năng ghi chép các bài ngự chế, thi văn còn coi giữ các loại sách của triều đình và các công văn giao thiệp với ngoại quốc, thuộc quốc; tào Biểu bộ coi giữ các bản tấu sớ đã được ngự phê, tức châu bản và những bản phó của các bài biểu chương nội ngoại.



                                      Thư viện Nội các năm 1942.

Để lưu trữ văn thư trong Nội các, năm 1826, vua Minh Mệnh đã cho xây một nhà riêng gọi là Đông các; tọa lạc tại đằng sau Tả vũ. Để vào được khu vực này, các nhân viên Văn thư phòng hoặc Nội các mà nhập trực trong Đông các phải có “Nhập các nha bài”. Từ đó, ở tầng trên Đông các bảo tồn: Tất cả các điều ước mà vua triều Nguyễn đã ký với ngoại quốc; các văn thư ngoại giao với ngoại quốc; các ngự chế thi văn; các bản địa đồ; châu bản (Văn thư chữ Hán viết trên giấy đã được vua phê duyệt) các triều.

Ở tầng dưới Đông các là thư viện Tụ Khuê, thiết lập từ năm Tự Đức 5 (1852), có nhân viên riêng để coi giữ các loại “kinh”, “sử”, “tử”, “tập”, trong đó phần lớn thư tịch chữ Hán do vua Minh Mệnh sưu tầm được (phần còn lại để tại Di Luân đường. Di Luân đường được coi như là một văn khố phụ thuộc để tàng trữ các bộ sách và tác phẩm văn học).

Từ ngày 2/5/1933, vua Bảo Đại cho thiết lập Ngự tiền văn phòng do ông Phạm Quỳnh lãnh đạo để thay thế Nội các. Đến đây, Nội các đã chính thức bãi bỏ, sau một đoạn lịch sử tồn tại kéo dài 104 năm. Vì vậy, mà Nội các bị bỏ hoang, không có người chăm sóc, chung quanh không có cửa, phần thì bị mưa dột, các châu bản và thư tịch tàng trữ trong đó bị hư hỏng nhiều.

Hiện nay, các tài liệu Hán Nôm quý giá ở nội các đã được chuyển về lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, như: Châu bản triều Nguyễn, Địa bạ triều Nguyễn và rất nhiều sách, tư liệu quý khác hiện đang được lưu trữ tại các thư viện lớn ở Hà Nội: Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Sử học, Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội... Các tài liệu, thư tịch này có thể coi là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá cho nhiều ngành khoa học và là bộ phận không thể thiếu trong kho tàng di sản Hán Nôm của dân tộc.


Nguyễn Huy Khuyến (Khoa Đông Phương học – Đại học Đà Lạt, 01 Phù Đổng Thiên Vương – TP Đà Lạt – Lâm Đồng)