UBND tỉnh trả lời về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Đặng Văn Thìn (TP. Vinh)

(Baonghean) - UBND tỉnh Nghệ An nhận được đơn của ông Đặng Văn Thìn, công dân khối 7, phường Lê Lợi, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An khiếu nại QĐ số 3266/QĐ-UBND ngày 28/6/2011 của UBND Thành phố Vinh về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB thực hiện dự án xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê và căn hộ cao cấp (BMC - Vinh - PLAZA) tại phường Quán Bàu, Thành phố Vinh và không nhất trí với QĐ số 812/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 của Chủ tịch  UBND Thành phố Vinh về việc giải quyết khiếu nại của ông với lý do: Thành phố Vinh chỉ bồi thường cho gia đình ông diện tích đất 32m2 bị thu hồi theo giá đất sản xuất, kinh doanh mà không bồi thường theo giá đất ở.

Ngày 29/7/2013, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 3243/QĐ-UBND.KT về việc giải quyết khiếu nại của ông Đặng Văn Thìn như sau:

Qua xem xét giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND Thành phố Vinh cũng như qua kiểm tra xác minh, UBND tỉnh kết luận:

1. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất và ki ốt ông Đặng Văn Thìn đang khiếu nại: Đất ốt của ông Đặng Văn Thìn có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng lại từ ông Nguyễn Hữu Yên năm 1995; ông Nguyễn Hữu Yên nhận chuyển nhượng từ Trạm Y tế phường Lê Lợi ngày 21/7/1999, ông Đặng Văn Thìn sử dụng ổn định vào mục đích kinh doanh, không tranh chấp, hàng năm ông Đặng Văn Thìn nộp lệ phí sử dụng đất ốt cho UBND phường Quán Bàu. Trong quá trình sử dụng, ông Nguyễn Hữu Yên, ông Đặng Văn Thìn chưa thực hiện đăng ký đất đai với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Về điều kiện để được bồi thường về đất.

 - Căn cứ vào Điểm b, Khoản 1, Điều 44, Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993  mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

a) Trường hợp thu hồi đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chúng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1, Điều 50 của Luật Đất đai và được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:

b) Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại Khoản 4, Điều 14 nghị định này thì người đang sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng...;”.

Như vậy, trường họp đất ốt kinh doanh của ông Đặng Văn Thìn đủ điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

3. Căn cứ pháp luật về áp giá bồi thường.

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 9, Nghị định số 197/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại:

“1.Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng".

- Căn cứ vào Điều 29, Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính  phủ quy định Thời hạn sử dụng đất đối với đất phi nông nghiệp được sử dụng ổn định lâu dài theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 1/7/2004: "Đất phi nông nghiệp được sử dụng trước ngày 1/7/2004 của tổ chức kinh tế do được giao đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không phải do Nhà nước giao, cho thuê thì nay tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được  tiếp tục sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phi nông nghiệp, không phải nộp tiền sử dụng đất khi được phép chuyển mục đích sử dụng đất sang làm đất ở, được bồi thường về đất theo giá đất ở khi Nhà nước thu hồi đất".

- Căn cứ vào Khoản 2, Điều 14, Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ: “2. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất tại thời điển quyết định thu hồi đất). Căn cứ vào Khoản 3, Điều 83, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định: "3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan han hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Như vậy đối với đất ốt kinh doanh của ông Đặng Văn Thìn khi được bồi thường về đất thì giá bồi thường là giá đất kinh doanh theo quy định tại Khoản 2, Điều 14, Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ. Việc ông Đặng văn Thìn khiếu nại, yêu cầu được bồi thường về đất theo giá đất ở là không có căn cứ pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên, UBND tỉnh Quyết định:

Điều 1. Giữ nguyên Quyết định số 812/QĐ-UBND Thành phố Vinh về việc giải quyết khiếu nại của ông Đặng Văn Thìn, trú tại khối 7, phường Lê Lợi, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Không bồi thường về đất khi thu hồi đất ốt đang kinh doanh của gia đình ông tại phường Quán Bàu là có cơ sở. Việc ông Thìn yêu cầu Nhà nước bồi thường đất ốt ông đang sử dụng theo giá đất ở hoặc giao cho một lô đất ở là không có cơ sở).

Điều 2. Giải quyết nội dung khiếu nại của ông Đặng Văn Thìn như sau: Nội dung ông Đặng Văn Thìn khiếu nại, yêu cầu bồi thường cho gia đình ông đối với  diện tích 32m2 tại phường Quán Bàu, Thành phố Vinh, bị Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê và căn hộ cao cấp (BMC - Vinh - PLAZA) theo giá đất ở là khiếu nại sai.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày ban hành. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại này, ông Đặng Văn Thìn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chánh Thanh tra tỉnh, Giám đốc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Xây dựng; Chủ tịch UBND Thành phố Vinh, Chủ tịch UBND phường Quán Bàu và các tổ chức, cá nhân có liên quan căn cứ quyết định thi hành.


UBND tỉnh Nghệ An