Bài 2: “Nhạt” vai trò của nhà khoa học

(Baonghean) - Trong liên kết “4 nhà”, khoa học kỹ thuật vừa có vai trò hỗ trợ vừa là bước đột phá để sản xuất phát triển, nâng cao năng suất, sản lượng và giảm chi phí trong sản xuất cho nông dân. Tuy nhiên, thực tế ở Nghệ An chưa cho thấy rõ vai trò của nhà khoa học trong gắn nghiên cứu với sản xuất, liên kết với doanh nghiệp, người sản xuất trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

>>Bài 1: Lợi ích cho nhà nông và nhà máy

Với sự chủ động, tích cực của Công ty Đầu tư và Phát triển chè Nghệ An, này là Công ty TNHH MTV ĐT&PT chè Nghệ An đã phối hợp với Viện nghiên cứu chè, (nay là Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMASI), đã nghiên cứu và đưa vào Nghệ An các giống chè lai chịu hạn đặc biệt: LDP1 và LDP2. Hiện nay ở Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông đã có khoảng 6.000 ha/tổng diện tích 7.000 ha chè giống này, mang lại năng suất, hiệu quả cao, chu kỳ kinh doanh kéo dài. Viện Nghiên cứu chè cũng đã đưa vào Nghệ An kỹ thuật thâm canh chè an toàn, trong đó việc thu hái chè bằng máy đã là một bước đột phá và quan trọng trong sản xuất chè an toàn.

Từ chè trồng bằng hạt, nông dân Nghệ An đã biết trồng chè bằng dâm cành, sau 2 năm có thể bán sản phẩm. Phương pháp thâm canh tiến bộ được áp dụng là tăng lượng phân bón từ 25 kg đạm lên 35 kg đạm (N)/tấn sản phẩm, ngoài ra còn bón thêm 70 - 75 kg magie sunphats (MgSO4)/ha và phân hữu cơ. Thâm canh phương pháp mới này chè tăng năng suất từ 10 - 15 %/năm, so với trước đây chỉ tăng 4 - 5%. Ông Hồ Ngọc Sỹ - Giám đốc Sở NN&PTNT Nghệ An, nguyên Giám đốc Công ty ĐT&PT chè Nghệ An thời đó cho biết: Nhờ vai trò của các nhà khoa học, cây chè ở Nghệ An mặc dù diện tích không lớn nhưng đã được thụ hưởng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới, từ đầu tư, thâm canh, thay thể bộ giống đến thu hái bằng máy và chế biến chè CTC hiện đại. Công ty chè đã đổi mới cơ bản bộ giống, đưa vào các giống mới như Hồng Đỉnh Bạch, Keo âm tính, LDP1, LDP2 vào sản xuất.



Sử dụng máy trồng mía ở Quỳ Hợp của Công ty Mía đường
Nghệ An Tate & Lylle.     Ảnh: Châu Lan

Đối với các vùng nguyên liệu mía, nhiều giống mía mới cũng đã được các nhà máy đường đưa vào trồng cho hiệu quả cao như: ROC 10, MI, Quế đường… tuy nhiên, năng suất mía sau nhiều năm vẫn chưa được nâng lên, đặc biệt là bệnh chồi cỏ vẫn đang hoành hành gần 2.000 ha, cho thấy vai trò của nhà khoa học chưa rõ. Ở vùng nguyên liệu mía đường Sông Con, giải pháp của “khoa học” là chuyển đổi gần 1.000 ha lúa, màu kém hiệu quả sang trồng mía, tức là đưa mía xuống thấp, còn diện tích mía ở đồi cao chuyển sang trồng cao su. Bước chuyển đổi phù hợp này đã nâng năng suất mía bình quân từ 50 - 55 tấn/ha sang 75 - 80 tấn/ha.

Công ty Mía đường Tate & Lyle vụ ép 2012-2013 đã đưa công nghệ tưới nhỏ giọt chủ động cho cây mía tăng hiệu quả cao với tên gọi: “Tưới nước nhỏ giọt công nghệ cao Netafim - Isarel”. Công ty đã lựa chọn các hộ trồng mía có diện tích từ 2 ha trở lên, có nguồn nước tưới, đi tham quan học hỏi ở Thanh Hóa, sau đó về áp dụng. Công ty mời chuyên gia của Israel về trực tiếp khảo sát, thiết kế những diện tích mía có thể tưới được. Những hộ tham gia dự án cũng được nhà máy cho vay 60 triệu đồng/ha không phải trả lãi suất để đầu tư thiết bị tưới nhỏ giọt.

Anh Võ Văn Lương - cán bộ khuyến nông của nhà máy cho biết: Tưới nhỏ giọt này mía được cung cấp nước trực tiếp cho vùng rễ cây, nên hạn chế cỏ dại so với phương pháp tưới tràn, phân bón và nước được cung cấp theo từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây mía. Nước thấm sâu, nuôi dưỡng cây mía ngay từ khi đặt hom cho đến khi phát triển, vì vậy năng suất mía có thể tăng lên 120 tấn/ha. Các nhà khoa học tại các nhà máy cũng đã thể hiện sự nỗ lực của mình khi dày công sáng tạo, đổi mới các bộ phận, thiết bị để cải tiến, tăng công suất, thu hồi đường, giảm thời gian ép, giảm thời gian vệ sinh máy ở các nhà máy đường. Nhiều người đã đạt giải thưởng cao của Giải Sáng tạo KHCN tỉnh như Nguyễn Hoàng, Đào Thanh Hải ở Nhà máy đường Sông Con… Sự phân loại sản phẩm, cam kết về chất lượng sản phẩm cũng như phương thức giao nhận, thu mua… là cách làm chuyên nghiệp trong sản xuất, kinh doanh đã được các nhà máy ứng dụng công nghệ thông tin, thiết bị để phân loại, thu mua nhưng chưa có sự giải thích rõ cho người dân nên cũng còn gây hoài nghi và bức xúc cho nhiều hộ dân khi cảm thấy bị thua thiệt.

Hoạt động nghiên cứu sản xuất, tiếp nhận chuyển giao thành công một số giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt trên địa bàn Nghệ An có Công ty CP Vật tư Nghệ An. Các giống lúa thuần Vật tư NA2, chọn lọc giống Q.ưu số 1 vào sản xuất đại trà, ngô lai L14, lạc 26… đã mang lại hiệu quả cho nông dân Nghệ An. Công ty còn nghiên cứu thành công loại phân NPK 15-5-20 sử dụng bón thúc cho lúa lai hiệu quả thay cho cách bón phân đơn đạm, lân, ka li riêng lẻ như trước đây. Công ty cũng đã đầu tư 3,3 tỷ đồng xây dựng trại nghiên cứu, khảo nghiệm, chọn lọc và lai tạo giống với qui mô 12 ha tại Kim Liên và Nam Lĩnh (Nam Đàn).

Các nhà máy đường, chè, sắn… cũng đã nỗ lực trong cải tiến thiết bị, đầu tư dây chuyền hiện đại để chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư cho bảo vệ môi trường, tiết giảm chi phí, sản xuất điện, phân bón để tăng hiệu quả kinh doanh.

Công ty Mía đường Nghệ An Tate & Lyle sản xuất điện, phân bón trực tiếp phục vụ cho sản xuất từ phế liệu. Công ty TNHH MTV ĐT&PT chè Nghệ An hiện đang vận hành 4 nhà máy chế biến chè đen CTC công suất chế biến từ 80 - 90 tấn/ngày và 5 dây chuyền chế biến chè xanh hiện đại. Công ty CP Mía đường Sông Con đã nâng công suất ép mía từ 1.250 tấn/ngày lên 2.500 tấn/ngày; Công ty Mía đường Nghệ An Tate & Lyle đã nâng công suất ép mía từ 6.000 tấn/ngày lên 9.000 ngàn tấn/ngày.

Những áp dụng, tìm tòi, ứng dụng các tiến bộ KHKT của các nhà khoa học ở các nhà máy là rất đáng kể đối với những vùng nguyên liệu. Ngoại trừ vùng nguyên liệu chè thì vai trò của các nhà khoa học nhà nước chưa rõ nét. Cơ quan khoa học đầu ngành của tỉnh chưa có nhiều đóng góp trong vai trò “4 nhà” theo QĐ 80 của Thủ tướng Chính phủ.
                                                                                     (Còn nữa)


Châu Lan - Văn Trường