Chuyện kể của bà

(Baonghean) - Lên lớp 1, tôi đi học bán trú. Cơm bán trú không hẳn là quá chán nhưng khổ nỗi toàn những món tôi ghét cay ghét đắng. Cá thu kho nghệ, thịt gà lá chanh và hầu hết món nào cũng có hành, mà tôi thì căm thù hành. Đi học được 1 tháng, tôi còi cọc trông thấy. Bà và mẹ lo quýnh quáng cả lên, sáng nào cũng giắt vào cặp tôi hộp sữa, dặn ra chơi phải uống hết. Thế mà tôi vẫn còi. Có lần mẹ đưa tôi đi vội, quên không bỏ sữa. Bà cặm cụi đạp xe đến trường đưa cho tôi, đúng lúc tôi đang rón rén đi theo mấy đứa trực nhật xuống nhà bếp để đổ bát cơm còn hơn nửa (chả là nếu không ăn hết cơm thì không được vào đi ngủ). Bà tôi ngây người nhìn đống cơm tôi vừa trút vào chậu, rồi nhìn tôi phẫn nộ. Chẳng nói chẳng rằng, bà thu dọn cặp sách, chở tôi về nhà. Hôm ấy, tôi bị một trận đòn ghê gớm.

Sau này lớn lên một chút, có lần bà xoa đầu tôi, chậm rãi kể chuyện hồi bà lên 7 tuổi. Bà không nhớ rõ tại vì sao và từ bao giờ mà những bồ thóc, bồ gạo trong nhà cứ vơi dần rồi hết sạch. Bà cũng không rõ từ bao giờ không còn được ăn ngày hai bữa cơm, rồi phải độn khoai, sắn. Không có khoai, sắn thì độn rau dại, rồi đến một hôm phải nấu cháo với vỏ trấu xay. Cái thứ cháo mà gạo cứ ít dần, ít dần cho đến khi đặc quánh lại những mùn trấu nhai trệu trạo. Bà còn bé quá, không biết rằng nạn đói năm 45 ấy đã cướp đi 2 triệu con người trên tổng số 20 triệu đồng bào. Bà chỉ nhớ những thân hình gầy guộc, loã lồ không ra hình đàn ông, đàn bà, ngồi vật vờ nơi xó nhà, góc bếp, ụ rơm và la liệt đầu làng, cuối chợ.

Bà chỉ nhớ những mái tóc bẩn thỉu, khô khốc như rơm, xoã ra phủ lấy khuôn mặt không nhìn ra mặt người mà chỉ thấy trũng sâu đôi mắt hoang dại như con thú. Những con thú cũng chết hết. Trâu, bò, chó, mèo, gà, vịt, cho đến con chuột, con gián đều lần lượt đi vào bụng người. Và giờ thì con người thay con thú, sục sạo, đào bới, trộm cắp, cướp bóc, móc mồm nhau ra mà kiếm lấy miếng ăn. Người ta phải ăn cả cám, cả khô dầu, thế mà những thứ ấy giá cả cũng tăng theo ngày. Cái thứ cám bán cho người đói là thứ cám trộn mùn cưa mà những con ngựa Tây, ngựa Nhật còn chẳng thèm ăn.

Ngoài bụi chuối vọng vào một tiếng mèo kêu ngai ngái. Tôi rùng mình, úp mặt vào bầu ngực lép của bà. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ con khóc ngặt nghẽo bên người cha, người mẹ chết co quắp, đến những con chó hoang gầy nhẳng với hàm răng trắng ởn và bộ lông xác xơ loang lổ những vết máu trẻ con. Đêm nay trăng sáng quá. Nghe nói người cõi âm hay về lại thế giới bên này vào những đêm trăng. Chợt thấy bà tôi bần thần nhìn vào khoảng không trầm mặc nơi bóng trăng hắt vào, tôi tự hỏi bà đã thấy điều gì trong đêm tối lẫn vào với tầng tầng kí ức ấy? Những bóng đàn bà? Những bóng đàn ông? Những bóng người già và trẻ nhỏ? Những bóng ma đã từng chết ngay cả khi đang sống, bởi vì cái đói là cái chết hiếm hoi mà người ta nhìn thấy hình bóng tử thần hiện hữu ngay trên chính khuôn mặt mình.

Bà tôi đã đi qua những năm tháng ấy như thế nào, không bao giờ tôi biết. Những kí ức ấy mơ hồ, gần như trong suốt và vô hình như những hồn ma - một kiểu giao kèo để được trở về từ cõi chết, như tôi vẫn đọc trong những câu chuyện thần thoại Hy Lạp ư? Tôi cũng đọc được một câu ngạn ngữ Nhật Bản nói “Một hạt cơm có bảy vị thần”, ý nói con người ta không được lãng phí dù chỉ một hạt cơm rơi vãi. Tôi nói lại với bà, bà lẳng lặng hồi lâu.

Rồi bà thở khan, khó nhọc nói: “Hồi bà còn làm nghề nông, lúa nhà mình trúng lắm. Thế rồi có lần cày bừa lên thấy bao nhiêu là đầu lâu, xương người. Là người chết đói đấy cháu ạ. Hạt lúa, hạt gạo ta ăn không chỉ có thần, mà có cả người, cả ma. Lãng phí là phải tội...”. Bất giác, tôi nghĩ đến những đứa trẻ được bế ẵm, khóc lẳng nhẳng vòi cho bằng được một cái kẹo. Còn bà tôi, chắc là đang nghĩ đến những đứa trẻ khóc ngặt nghẽo bên người cha, người mẹ chết co quắp trong tiếng tru tiễn hồn của những con chó hoang.


Hải Triều