Chuyến tàu lầm lũi

(Baonghean) - Những năm tháng mở đường Trường Sơn, ở lán ngủ sạp, có lúc sạp lát bằng cây lau cù, đêm nằm đau ê ẩm, chị Sinh chỉ ước có một tấm giường nan tre, và khao khát trong vòng tay một người đàn ông. Có đêm thức giấc, người nóng hầm hập, chị ôm chặt cái Lý, vật vã ôm chặt nó trên người, cắn vào má vào cổ. Lý kêu oai oái, tỉnh lại chị em ôm nhau khóc tức tưởi. May mà chiến tranh cũng kết thúc, chị em mỗi đứa một nơi...
 
Minh họa: Nam Phong
 
 
Ngoài đồng lương, chị còn có quà cáp, còn đầu thừa đuôi thẹo, mỗi thứ một ít. Chẳng mấy năm chị thành giàu có, xa quê ở một mình, chị chẳng sắm sanh gì, chỉ mua vàng. Thời ấy, trong tay có hơn chục cây vàng, không ai dám nghĩ đến.
 
Bên cạnh kho có nhà bà Hậu. Những đêm trăng sáng, ăn uống xong, chị thường đóng cửa sang chuyện vãn, lúc tấm phíp đen may quần, lúc bánh xà phòng, lúc chai dầu hỏa đem biếu bà, chị bảo tiêu chuẩn của chị không dùng hết, đem sang cho bà, dần dà thành thân quen. Bà Hậu quý chị như con gái.
 
Bà Hậu chỉ có mình Hiền, học xong lớp 10 chưa đi được đâu. Hiền thua chị 3 tuổi, khi nhà có bát cơm nếp mới, bát canh cá tươi, bà sai Hiền đưa sang cho chị. Lúc chị dúi vào tay Hiền hộp thuốc đánh răng, lúc miếng xà phòng chanh, lúc tấm vải, hai người thành thân thiết, thỉnh thoảng rỗi rãi Hiền cũng sang chị tâm sự. Hôm ấy trăng sáng, chị tắm xong chỉ mặc chiếc áo đông xuân mỏng, nằm thiu thiu trên giường. Hiền đẩy cửa vào, chị biết nhưng không dậy, giả ngủ. Hiền đứng cạnh giường ngây người trước tấm thân chắc lẳn, anh định quay ra để chị ngủ, chị vội quờ tay kéo Hiền lại, trái chân anh bổ nhào vào giường. Chị ghì chặt đầu Hiền vào ngực, người chị như bốc lửa, cháy rần rật...
 
Thế là họ thành vợ chồng. Chị mua gạch, ngói xây ba gian nhà thay cho ngôi nhà lụp xụp. Suốt mấy tháng trời, chị sống trong mê đắm. Với tuổi 27 dãi dầu, cơ thể chị như mảnh đất khô cằn, bỗng gặp mưa đất réo sôi tơi ra mầu mỡ, má chị hồng hào trở lại, ngực căng tròn, quyến rũ. Chị sung sướng trước sự đổi thay ấy. Chị chợt lo lắng mỗi chiều từ cơ quan về lo cơm nước, chồng chị thất thểu vai vác cày tay dắt trâu, người bê bết bùn đất. Anh chỉ kịp quẳng cày xuống đống rơm, dội ào vài gầu nước, lùa vội vài lưng cơm rồi vào giường lăn ra ngủ, chị kéo chồng vào lòng. Mùi khét từ tóc chồng làm chị xót xa. Không thể để thế này được, phải giải thoát cho anh, để giữ hạnh phúc gia đình.
 
Một tháng chạy chọt, cầu cạnh, chị đã xin được một suất đi Đại học Nông nghiệp hệ địa phương gửi đi đào tạo. Ngày anh ra đi, chị chuẩn bị không còn thiếu gì: nào áo may ô quần lót vải phin, quần ka ki Trung Quốc, đồng hồ bốn đinh thủy quân lục chiến Mỹ, kính Americon... Toàn những của hiếm, chị nói với chồng:
 
- Thôi, anh chịu khó xa em ít năm, chăm chỉ học hành thành đạt. Em lại lo cho anh về đây công tác, vợ chồng lại được bên nhau, với lại cũng chẳng xa xôi gì lắm, ngày tết ngày lễ anh về với em vài ngày là được!
 
Hết một năm, hè anh về một tháng, chị gần như không nhận ra anh, trắng trẻo, trẻ hẳn ra, không còn là Hiền của bùn đất ruộng đồng nữa. Một cảm giác là lạ, vừa như mừng như lo cứ day dứt chị, linh cảm người phụ nữ mách bảo chị. Anh đang xa dần cái vòng tay ôm ấp của chị, hè năm sau anh chỉ ở nhà một tuần, rồi lấy cớ phải đi thực tế xuống địa bàn. Một tháng sau chị xin nghỉ phép, ra trường đúng ngày chủ nhật. Chị giới thiệu là chị gái ra thăm Hiền, bạn bè cùng lớp anh mừng vui chuyện trò rôm rả...
 
- Hay quá! Chị ra lần này xem mặt em dâu cho cậu Hiền luôn thể.
 
- Tôi cũng nhận được thư em nó bảo ra có việc gấp, chắc là chuyện này đây?
 
- Ôi! Tốt quá chị ạ! Anh Hiền với chị Đào lên Hà Nội chơi từ chiều tối qua, chắc chỉ chiều là về thôi. Chị cố nén, giọng cứ ứ nghẹn, run run như sắp òa khóc.
 
- Chết thật, ở nhà công việc quá bận, thôi thì nhờ các cô, tôi gửi lại cho em nó ít quà, và nhắn hộ tuần tới Hiền về nhà có chút việc. Nếu tiện thì xin cho cô Đào về luôn, ra mắt họ hàng càng tốt.
 
Một tháng sau Hiền về, lạy lục xin chị tha thứ. Anh bảo Đào đã biết anh có vợ, Đào bỏ anh rồi. Thôi thì ngậm bồ hòn làm ngọt. Chị cắn răng chịu đựng, còn hơn một năm, chị sẽ lo kéo anh về. Chị biết ông Sinh phó chủ tịch huyện, là anh em họ xa của Hiền, lân la làm quen vợ Sinh, lúc tấm vải hoa, lúc can dầu, dần dà chị em thân nhau. Mấy lần chị đến vào bữa cơm, chị mua sẵn ít thức ăn chín, kèm chai rượu chanh, xin được ăn cơm cùng anh chị. Dần dần, Sinh coi chị như người nhà, qua chuyện trò, chị hở ra việc lo lắng muốn xin cho Hiền về huyện.
 
- Cô thì cứ lo xa, khi nào nó tốt nghiệp, việc đó anh lo, phòng nông nghiệp đang thiếu cán bộ có bằng cấp.
 
Hiền ra trường, và về huyện mọi việc êm thấm, cứ thế vài năm Hiền lên trưởng phòng, rồi sang làm giám đốc một lâm trường. Đường công danh như diều gặp gió mà chị là người dật giây. Sinh về hưu. Mọi việc lặng lẽ, năm tháng trôi đi êm ả! Hai con đã lớn, tiền của cứ chảy vào nhà như nước.
 
Sau năm Liên Xô tan vỡ, một số lao động xuất khẩu mất việc, chẳng biết manh mối nào, một số đến tìm chị, nhờ chị xin vào cơ quan anh. Họ đưa quà toàn của quý, chị nể, ép anh nhận. Nào ngờ con Luyến quá lứa lỡ thì, tóc quăn, mỏ đỏ, váy ngắn váy dài, về làm văn thư đã cướp chồng chị. Mấy ngày Hiền không về, chị đã nghi, giữa trưa chị đạp xe vượt dốc lên cơ quan, cửa phòng khép hờ, lặng lẽ xô cửa, hai người đang quấn vào nhau. Chị quay về lao vào phòng, người ngùn ngụt cháy, chị đập nát chiếc ti vi, chiếc đài, chị xô ào chiếc tủ lạnh, nươc chảy lai láng. Chị ngã vật ra sàn nhà, quằn quại. Thế là hết! Hiền về nem nép mở cửa, thấy vợ gần như trần trụi nằm giữa nhà, anh khẽ gọi: “Nưa! Nưa ơi!”. Chị nhìn thấy chồng, máu trong người lại sôi lên sùng sục. Chị cảm nhận từ sâu thẳm trong lòng, một sự đổ vỡ khủng khiếp!
 
Chuyến tầu chiều nặng nhọc thở phì phì vào ga. Sân ga vắng ngắt, chỉ có một người đàn bà, quần áo cũ nhàu, đeo một tay nải vá víu lên tầu. Người đàn bà ấy là chị Sinh. Hơn một tỉ tiền bán nhà và mấy chục cây vàng, góp nhóp cả đời chị, nhét vào tay nải về quê, về cái làng nhỏ bé bên chân núi, nơi mấy chục năm xa cách, nơi có những người thân yêu nghèo khó của chị. Với số tiền của chị, chị sẽ làm cái gì đó cho quê hương, để quên đi cả một đời toàn những lầm lẫn...
 
Con tầu rời ga, không một bóng người đưa tiễn. Con tầu lầm lũi xuyên màn đêm lao về hướng Bắc. Trời đầy sao yên bình, gió thoang thoảng hương đồng nội! Lòng chị nhẹ nhõm thanh thản. Bóng làng Nưa hiện về chập chờn chập chờn. Con tầu lắc lư đều đều như trôi trong mênh mang trời đất...
 
Truyện ngắn của Xuân Chuẩn
(Quỳnh Lưu)