Gắn chế biến với phát triển nông, lâm nghiệp bền vững

(Baonghean) - Những năm qua, công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn Nghệ An có những bước phát triển tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho người lao động... 
 
Hiện toàn tỉnh Nghệ An có gần 32.000 cơ sở chế biến nông, lâm, ngư nghiệp, thu hút gần 58.000 lao động. Các cơ sở chế biến được xây dựng ngày càng quy mô, tạo nhiều sản phẩm có chất lượng phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. 
Vận hành dây chuyện chế biến ván ghép thanh tại Nhà máy gỗ Nghệ An. Ảnh: Sỹ Minh
 
Lĩnh vực thu mua, chế biến lúa có 2 doanh nghiệp tổ chức thu mua và chế biến lúa gạo với quy mô công nghiệp là Công ty TNHH Vĩnh Hòa (Yên Thành) và Tổng công ty CP Vật tư Nông nghiệp Nghệ An. 2 đơn vị này, mỗi năm thu mua chế biến hàng chục ngàn tấn lúa trên địa bàn tỉnh. Riêng Công ty TNHH Vĩnh Hòa đã đầu tư hệ thống máy chế biến khá đồng bộ gồm máy xay xát, sấy lúa bằng lò điện với công suất chế biến trên 30.000 tấn/năm. Công ty đang hướng tới đầu tư phát triển mạnh lúa tím thảo dược, tận dụng phụ phẩm rơm rạ để sản xuất trà thảo dược, chiết xuất Omega...  
 
Nghệ An có 3 cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi dùng nguyên liệu ngô hạt, đậu… với tổng công suất 160.000 tấn/năm (Nhà máy của Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Goldenstar là doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài, công suất 80.000 tấn/năm; Nhà máy thức ăn gia súc Con Heo Vàng, thuộc Tổng công ty TNHH Thương mại VIC Thành phố Hải phòng công suất 40.000 tấn/năm; Đặc khu Hope được đặt tại Khu công nghiệp Nam Cấm công suất 40.000 tấn/năm). Sản lượng thức ăn chăn nuôi năm 2014 đạt 82.000 tấn. Lĩnh vực chế biến mía đường phát triển khá mạnh với 3 nhà máy, năng lực chế biến đạt gần 15.000 tấn mía/ngày (Nhà máy đường NASU 9.000 tấn, Nhà máy đường Sông Con 5000 tấn/ năm, Nhà máy đường Sông Lam 1.000 tấn). Sản lượng đường chế biến năm 2014 đạt 153.258 tấn.
 
Về chế biến chè, có 86 cơ sở chế biến với tổng công suất thiết kế 527 tấn/ngày, với nhu cầu cần lượng nguyên liệu chế biến là 120.000 tấn/năm (thời gian chế biến 230 ngày/năm). Trong đó Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển chè Nghệ An có công suất thiết kế là 243 tấn chè búp tươi/ngày; có 3 nhà máy chế biến tinh bột sắn thu mua ổn định cho vùng nguyên liệu, hoạt động với tổng công suất 900 tấn củ tươi/ngày (Nhà máy tại Thanh Chương có công suất 500 tấn/ngày và Nhà máy tại Yên Thành có công suất suất 300 tấn/ngày; Nhà máy bột sắn Nghĩa Long - Nghĩa Đàn 100 tấn/ngày). Trên địa bàn tỉnh còn có 2 nhà máy chế biến sữa của Vinamilk tại Thị xã Cửa Lò với công suất 30 triệu lít sữa tươi, sữa chua/năm và Nhà máy sữa TH True Milk tại huyện Nghĩa Đàn với công suất 200 triệu lít/năm.
 
 
Sản xuất tại Nhà máy sữa TH. Ảnh: Châu Lan
Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ phát triển khá mạnh. Toàn tỉnh có 45 doanh nghiệp chế biến gỗ, 98 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, ngoài ra còn có 10.410 cơ sở sản xuất kinh doanh cá nhân, quy mô gia đình với các sản phẩm từ gỗ, lâm sản ngoài gỗ; chế biến gỗ dăm xuất khẩu, đạt 300 - 400 ngàn tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt trên 100 triệu USD... 
 
Ông Trần Hữu Tiến, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Các doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm sản ngày càng đổi mới công nghệ, ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp… nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá.  Sản phẩm nông nghiệp thông qua chế biến đã tham gia xuất khẩu ở nhiều nước như Anh, Ấn Độ, Iran, Nhật, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Inđônêsi a...
 
Từ nay đến năm 2020, tỉnh có chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo hướng bền vững, hình thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; có năng suất, chất lượng, hiệu quả, xây dựng thương hiệu uy tín với khả năng cạnh tranh cao. Cùng đó, sử dụng hợp lý và khai thác quỹ đất để phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Đẩy mạnh liên doanh, liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Từ đó, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho khoảng 40.000 lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn, giảm tỷ lệ hộ nghèo. Dự tính, tốc độ tăng trưởng bình quân 12,2-12,5%/năm: Kim ngạch xuất khẩu 500 triệu USD, tăng bình quân 17,02%/năm. 
 
Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ lựa chọn một số nhà máy chế biến trọng điểm để hỗ trợ đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất đáp ứng xuất khẩu. Đồng thời hình thành hệ thống các cơ sở vệ tinh có nhiệm vụ sơ chế nguyên liệu, sản xuất thành phẩm hoặc bán thành phẩm có quy mô phù hợp; mở rộng mạng lưới cơ sở làm nhiệm vụ thu gom, bảo quản sơ chế nguyên liệu tại vùng sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản; đổi mới công nghệ, nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, đảm bảo an toàn thực phẩm với giá thành cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính. Có chính sách hỗ trợ máy móc thiết bị, kỹ thuật sơ chế nông, lâm, thủy sản đối với các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, quy mô gia đình.
 
Một trong những giải pháp quan trọng là ban hành chính sách đòn bẩy kết hợp hài hòa giữa khâu khai thác, cung ứng nguyên vật liệu với khâu chế biến. Phối hợp giữa các nhà máy chế biến nông, lâm sản với các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu để tuyển chọn, lai tạo giống cây, con đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến. Tiếp tục triển khai thêm các vùng nguyên liệu tập trung như vùng cây ăn quả, vùng rau sạch, vùng nguyên liệu lâm sản (keo, lùng nứa, gỗ…), nuôi gia súc, gia cầm… Phối hợp với các tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Hà Tĩnh và nước bạn Lào để hình thành một số vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn tỉnh. 
 
Ngành chế biến sẽ chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nâng cao chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm. Đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh, nâng cao chất lượng, mẫu mã. Đối với các sản phẩm xuất khẩu đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế, tiếp tục thực hiện một số giải pháp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chính sách khuyến nông, chính sách áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cung cấp thông tin thị trường, phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp.
 
Văn Trường