Khoai sọ đồi cho thu nhập cao

(Baonghean) - Khoai sọ đồi còn gọi là khoai sọ núi hay khoai môn. Đây là cây lương thực - thực phẩm có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập ổn định và cao hơn so với trồng lúa nương ở các vùng miền núi.

Ở huyện miền núi Kỳ Sơn, khoai sọ được trồng tập trung tại các xã Huồi Tụ, Mường Lống, Đoọc Mạy, Na Ngoi và Tây Sơn. Ngoài tác dụng là cây lương thực - thực phẩm giá trị, rất được người dân ưa chuộng, thì khoai sọ còn được dùng làm các vị thuốc quan trọng trong Đông y để hỗ trợ điều trị một số trường hợp như: đau dạ dày, bổ tỳ, suy nhược cơ thể, tăng cường thể lực, viêm thận, kiết lỵ, đau nhức gân cốt.  Hiện, toàn huyện có hàng trăm ha với tổng sản lượng gần 1 nghìn tấn mỗi năm, đem lại nguồn thu rất lớn cho người dân vùng cao.

Kỹ thuật trồng:

Thường được trồng ở các tỉnh miền núi, có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn. Năng suất bình quân 5 - 6 tấn/ha, nơi đất tốt đạt 12 - 13 tấn/ha.

Chọn giống:

Có 2 loại: Giống dọc trắng và giống dọc tía. Giống dọc trắng có chiều cao cây, trọng lượng củ trung bình trên khóm và năng suất củ cao hơn.

Khi trồng nên chọn giống dọc trắng, chọn các củ con trên củ cái khoẻ mạnh, không bị sâu bệnh, tròn đều, trọng lượng khoảng 50g. Không lấy củ đã mọc mầm dài và các củ cháu để làm giống (củ cháu là củ mọc từ củ con). Trước khi trồng phơi nắng củ giống 2 - 3 ngày để thúc nẩy mầm.

Khoai trồng vào tháng Giêng và tháng 2 âm lịch, tốt nhất là trồng vào thời điểm xung quanh tiết lập Xuân để sau khi trồng gặp mưa xuân cây mọc thuận lợi.

Làm đất:

Đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ. Đào hố có kích thước 20 x 20 x 20 cm.

Tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai từng nơi, có thể trồng theo khoảng cách, mật độ như sau: Khoảng cách 70 x 80 cm, mật độ 20.400 cây/ha; 80 x 80 cm, mật độ 15.600 cây/ha; 90 x 90 cm, mật độ 12.300 cây/ha.

Bón lót phân hữu cơ 8 - 10 tấn/ha; trung bình khoảng 0,5 - 0,8 kg/hốc. Bón thúc phân đạm, lân, kali. Lượng phân bón cho 1 sào Bắc bộ: 4 - 7 tạ phân chuồng; 2 - 3 kg urê; 10 - 12 kg phân lân nung chảy; 2 - 4 kg sunphát kali. Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, 1/2 đạm và kali trộn đều vào đất trước khi trồng. Phân đạm và kali còn lại có thể bón thúc 1 - 2 lần sau khi trồng 3 - 6 tháng. Khi trồng, đặt củ giống ở độ sâu 7 - 8 cm, tránh tiếp xúc trực tiếp với phân, phủ kín đất. Sau khi trồng, phủ bằng rơm rạ hoặc cỏ khô để giữ ẩm cho đất và hạn chế cỏ dại.

Khoai sọ đồi ưa ẩm, nhưng nếu úng nước bộ rễ phát triển kém. Sau khi trồng nhiệt độ không khí chưa cao, cây chưa lớn, chỉ giữ cho đất ẩm (độ ẩm đất 65 - 75%) là được. Thời kỳ hình thành củ, cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cần nhiều nước.
Do đó phải chú ý tưới nước, tránh để cây gặp hạn trong giai đoạn này.

Đối với đất bằng phẳng, sau khi trồng 2 - 3 tháng, cây mọc khoẻ, vun luống cao 15 - 20 cm, rộng 40 - 50 cm để rễ bất định mọc nhiều, tăng khả năng chống hạn cho cây, hạn chế mầm ngọn nảy sinh, tạo điều kiện cho cây mẹ phát triển. Đối với đất dốc thì tiến hành vun gốc.

Cần chú ý đề phòng một số loại sâu bệnh: rầy, nhện đỏ, bệnh cháy lá, thối củ; trong đó bệnh mốc sương thường phát sinh vào thời kỳ nhiệt độ cao và ẩm độ lớn.

Khi lá chuyển sang màu vàng và khô dần là lúc củ đã già, hàm lượng tinh bột cao, hương vị củ thơm ngon, có thể thu hoạch củ. Vụ thu hoạch chính vào trung tuần tháng 9. Nếu củ dùng làm giống thì phải để thật già mới thu hoạch. Sau khi thu hoạch, củ không cần rửa và đem để nơi khô mát.

Bà con cũng cần chú ý, do thời gian sinh trưởng của khoai sọ núi tương đối dài (khoảng 8 tháng). Do đó, để nâng cao thu nhập trên 1 đơn vị diện tích nên trồng xen với lạc, đậu tương hoặc một số loại rau ăn lá.

Đối với vùng đồng bằng đất thấp, khi trồng khoai sọ cần tiến hành lên luống.


Phú Hương (St)