Linh thiêng đền Chín Gian

Đền chín gian xưa và nay

Từ thế kỷ 18 trở về trước, đền Chín Gian được dựng trên đỉnh Pú Chò Nhàng (cao trên 350 m), phía Tây Bắc Mường Tôn (cách bản Khoẳng-Châu Kim) hơn 2 km. Trong một kỳ lễ hội, đến phần hành lễ Hiến trâu cho các vị thần linh, trong lúc tắm trâu tại Bắng Cọc, đoạn sông Nậm Giải chảy qua bản Khoẳng, bỗng trời kéo mây đen gió lớn, một con rồng đến cuốn mất con trâu cái trắng của Mường Tôn. Tạo Mường cho là điềm xấu, liền cho dân chúng giết trâu, làm lễ khấn xin Trời Phật, tổ tiên cho dựng ngôi đền ở một địa điểm khác. Sau đó, có một con quạ cổ khoang trắng đến gắp lấy miếng xương trâu ở đền cũ (Pú Chò Nhàng) bay về thả xuống một ngọn đồi nhỏ ở phía Nam Mường Tôn gọi là Pú Pỏm.

Đầu thế kỷ 20, năm Bảo Đại thứ II-1927, tri phủ Quỳ Châu lúc bấy giờ là Sầm Văn Hiên đã cho nhân dân các mường khai thác gỗ lim kéo về tập trung tại bãi sông bản Piếng Pần (nay thuộc Châu Thắng- Quỳ Châu). Sau đó, những người thợ giỏi từ các mường về để đục đẽo, chạm trổ các phần cơ bản, vận chuyển bằng đường sông ngược bến Tà Tạo, khiêng lên đỉnh Pú Pỏm để dựng đền. Tiếp theo đó là những kỳ lễ hội lớn được tổ chức hàng năm. Theo nhà giáo lão thành Lô Khánh Xuyên-nguyên trưởng phòng Giáo dục huyện thì thời kỳ đó, mỗi kỳ lễ hội là một dịp để nhân dân bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên nhưng cũng là dịp để đua tài qua những trò chơi dân gian đầy đặc sắc: vui gì hơn có tập xạp, vít luống (nhảy sạp. ném còn). Tiếng trống, chiêng tế lễ, tiếng reo hò của đám hội kéo dài hàng mấy ngày liền. Nhưng trước đó, trong thời gian cúng (6 ngày), không được đanhs trống chiêng. Khi hết kiêng, toàn bộ mới ào lên rộn rã, báo hiệu hồn mường, hồn bản trở về. Duy trì qua biết bao năm, đến 1972, do những đặc điểm lịch sử của thời kỳ đó, nên phần mái tôn đền bị dỡ bỏ về lợp cửa hàng HTX mua bán, phần khung cũng bị mai một dần, chỉ còn lại phần nền dãi dầu cùng năm tháng.

Trước nhu cầu hoạt động tâm linh của nhân dân, cũng là khôi phục một lễ hội lớn đặc sắc của đồng bào Thái miền Tây, cuối năm 2003, UBND huyện Quế Phong đã quyết định khởi công xây dựng tôn tạo đền Chín Gian. Tháng 6 năm 2006, lễ hội đầu tiên sẽ được bắt đầu, nối nhịp lại kỳ lễ hội cuối cùng cách đây hơn 30 năm trước. Giờ đây trên nền ngôi đền cũ, một ngôi đền mới mang đậm dáng nét ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái đã dựng lên khang trang giữa định Pu Pỏm khóang đạt, thênh thang. Toàn bộ cấu trúc đền với cầu thang lên xuống, hoa văn dọc các lan can đều gợi cho đồng bào cảm giác thân thuộc và gần gũi. Trước sân, hướng vào mặt chính đền là chín con trâu trắng (Quái Mè Hảo) đắp bằng xi măng nằm phủ phục. Nôi thất đền bằng các vật liệu hiện đại nhưng vẫn giữ nguyên cách bài trí chính của nhà sàn. Các bàn thờ, đồ tế khí giản đơn nhưng trang trọng. Trước mặt đền là cánh đồng của xã Châu Kim rông mênh mông với dòng Nậm Giải uốn quanh từ chân đỉnh Pú Chờ Nhàng. Đền tựa lưng vào núi Tèn Cắng, sau nữa là dãy Sắn Nộc Yêng mênh mông, sững sững xa mờ. Ông Hà Đình Quỳ, người bản Piếng Chào, đang tạm coi sóc ngôi đền kể với chúng tôi rằng: Vào cữ cuối tháng âm lịch, các cụ vẫn thường hay "về" xem con cháu dựng lại đền lắm. Đêm khuya nghe vọng quanh đền rõ cả tiếng thổi lửa, tiếng vó ngựa lúc mờ lúc tỏ. Tựa như các cụ mừng vui vì con cháu vẫn nhớ người xưa...

Đền Chín Gian.

Lung linh lễ hội

Thường mỗi kỳ lễ hội, lễ vật không thể thiếu là mỗi con trâu mộng chưa dùng trong cày kéo, không có khiếm khuyết trên cơ thể. Ngoài ra, mỗi mường có thêm 9 con lợn con, 90 con gà nhỏ và 90 gắp cá sông nướng. Nay, để phù hợp, không nhất thiết phải đủ lễ vật như xưa, nhưng vẫn đảm bảo tất cả những chi tiết dù nhỏ nhất phục vụ trong lễ hội.

Đến ngày định trước, Tạo mường tập hợp các bô lão, chức dịch và trai tráng trong chín mường rước lễ đến, lễ do trai tráng các mường mang đến gồm cá, gà, lợn, rượu, trâu. Đoàn rước do Tạo mường dẫn đầu, đến các bô lão chức dịch, lễ vật, tiếp đó là ông áp (ông tắm trâu), bà mo mường, các xảo lực mỏ (người con gái đẹp) và cuối cùng làđoàn người tham dự lễ hội của mường. Đoàn người nối nhau, uốn quanh qua các bản, các làng, qua khe, qua suối, tất thảy đều hướng về đền. Tới nơi, các mường chia nhau đưa lễ vật vào gian dành cho mường mình, ở đó đã có sẵn 9 mâm tre, 9 sạp nứa, 3 mâm gỗ (riêng Mường Tôn là 5 mâm gỗ). Các sạp được kê thành 4 tầng. Chính giữa mỗi gian đặt 1 chum rượu cần với 9 cần trúc cắm sẵn.

Quan niệm của đồng bào Thái cho rằng, dường về mường Phá (mường Trời) nơi ở của vua Trời và Tạo Ló Y có nhiều cửa ải, qua mỗi cửa ải phải cúng một thứ lễ vật cho vị thần giữ cửa. Bởi vậy, ngày thứ nhất người ta chỉ cúng bằng cá, gà và lợn. Ngày thứ 2 mới làm lễ "Hắp Quái" (lễ nộp trâu) trước khi giết trâu. Tại lễ này, bà mo chủ dẫn Tạo mường, ông ạp và các cụ già cầm đuốc đi quanh con trâu của mường 3 vòng tỏ ý đồng lòng dâng trâu. Tiếp đó ông ạp đưa trâu xuống tắm tại bến sông Tà Tạo với 9 lần khoát nước tượng trưng và dắt trâu theo hướng khác lên đền. Sau khi trâu được buộc vào " lắc quái" (cây cột buộc trâu), trước mỗi cột này đều có một cây đa của mỗi mường, ông ạp vung dao chém vào cổ trâu tượng trưng. Thịt trâu khi xẻ xong được đặt lên bậc sạp cao nhất của nơi để lễ vật. Bà mo tiếp tục làm lễ "Hắp Quái" đến hết ngày thứ 3 mới xong. Lễ xong, thịt được đem chế biến tại chỗ và chia đều cho mọi người cùng thưởng thức. Thịt không ăn hết thì bỏ lại hoặc thả xuống suối, không ai được đem phần về nhà.

Phần lễ trang trọng kết thúc, bắt đầu cho những hoạt động náo nhiệt, vui tươi của phần hội. Cuộc thi bắn nỏ với mỗi mường 9 chàng trai đua tài. Đích để cách cự ly 20 bước chân. Phần thưởng là mảnh vải thổ cẩm tự dệt, hộp thuốc lá bằng bạc, hộp da đựng trầucau. Các cuộc thi khác như kéo co, vật dân tộc, nhày sạp, múa vòng, ném còn cũng thu hút đông đảo các chàng trai cô gái tham gia. Nhưng được chú ý hơn cả vẫn là những lời hát diễn xướng tình tứ qua các hình thức xuổi, lăm, nhuôn. Những lời hát này ngoài chúc tạo mường sống lâu, chúc 9 bản mười mường yên vui, hạh phúc còn là lời hát giao duyên, tìm bạn. Hoạt động này khôbg chỉ quanh khu vực đền mà còn lan đến các bản lân cận và kéo dài đến tận khi núi rừng trở mình sang ngày mới. Những lời "hắp bảo xảo" (trai gái hát giao duyên) rất giản dị nhưng xiết bao trữ tình: Khoi dặc tắt láu hưn Pú Quái á mọc/ Dặc tan nắm chú Mướng Nọc á xiểng (ước sao được hứng sương ở Đền Trâu cho bông lau gặp gió/ ước được làm vợ, làm chồng với người Mường Nọc đẹp nổi tiếng cả chín mường). Hội đã tan rồi, nhưngnhững lời hát đó như vẫn còn bay lan khắp chín bản mười mường, cho gần lại Mường Chừn, Mường Quáng, cho đẹp thêm Mường Chón, Mường Chòng. Để đến hẹn, kỳ hội đền Chín Gian năm sau, ta lại gặp nhau. Ngày 14 tháng 6 năm nay, mời bạn lên với Lề hội đền Chín Gian, nơi đầu dòng Nậm Giải của miền Tây đất Nghệ.          
 



Tin, bài liên quan:


Trần Hải-Mỹ Hà