Một tấm lòng

(Baonghean) - Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có bài thơ viết về Tiếng Nghệ nổi tiếng. Bài thơ ông dịch tiếng Nghệ sang tiếng phổ thông cho vợ là chị Từ người Hà Nội nghe.

Cái gầu thì bảo cái đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi
Chộ tức là thấy mình ơi
Trụng là nhúng đấy đừng cười
 nghe em
Thích chi thì bảo là sèm
Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào
Cá quả lại gọi cá tràu
Vo troốc là bảo gội đầu đấy em…
                                           (Tiếng Nghệ)

Đằng sau những câu chữ dung dị ấy của ông là cả một tấm lòng với quê hương. Ông tự hào là người Thanh Chương. Và, dù sống giữa thủ đô, và vợ là người Hà Nội gốc, ông vẫn giữ “chất Nghệ” của mình. Tôi thường nói đùa với Võ Thanh An, có hai ông anh Thanh Chương “kết tủa” giữa thủ đô. Gàn và khái thì Võ Thanh An và Nguyễn Bùi Vợi là không ai bằng! Ngày xưa, anh em đồng hương chơi với nhau hay bị coi là cục bộ, địa phương. Nhưng đó là chốn công quyền. Còn với anh em văn nghệ, thì mặc. Thích nhau quý nhau là chơi, bất chấp hết!

Anh Vợi gặp tôi lần đầu là tại hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ ba tại Hà Nội (12/1985). Bấy giờ ông là nhà thơ nổi tiếng, đã có thơ được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường, còn tôi mới lớ ngớ đến với văn chương. Nguyễn Bùi Vợi người to cao, có mái tóc dày, để dài rất ấn tượng. Ông nhờ tôi chở ông từ trụ sở Hội Nhà văn về cơ quan ông. Sau lần gặp nhau hỏi han trò chuyện đó, ông thường để ý đến các sáng tác của tôi. Tôi nhớ, ông là người đầu tiên giới thiệu tập thơ của tôi trên báo Văn Nghệ. Tôi thích bài giới thiệu của ông, bởi, ông viết giới thiệu lời lẽ rất chừng mực, ông còn chỉ ra những vụng về mà tôi thường gặp phải trong thơ. Tuy nhiên, đằng sau những câu chữ thuần túy nghề nghiệp của ông, tôi vẫn đọc thấy tấm lòng ưu ái ông dành cho tôi.



Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và vợ là Đỗ Thị Từ. Ảnh: P.V

Nguyễn Bùi Vợi không uống rượu. Là nhà thơ, nhà phê bình văn học khá nổi tiếng nhưng ông sống mô phạm. Ông cũng là người say chuyện. Nhà thơ Tùng Bách kể, nhà thơ Võ Văn Trực hay đến nhà Nguyễn Bùi Vợi chơi. Anh Trực ngồi suốt buổi không nói câu nào, chỉ im lặng ngồi nghe bạn nói. Lúc anh Trực về rồi, chị Từ mới nhỏ nhẹ bảo ông: “Anh nói ít thôi, phải để cho anh Trực nói với chứ”. Lần sau anh Trực đến, ông ngồi im, chờ mãi cũng chẳng thấy anh Trực nói gì, lúc anh Trực về rồi, chị Từ bảo: “Các anh hôm nay có chuyện gì à?” Ông bảo chị Từ: “Bà thấy không, tôi có nói mất phần của nó đâu. Nó không nói thì tôi mới phải nói đấy chứ!”.

Tôi đến thăm nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi tất cả là 3 lần. Nhưng hai lần là đến lúc ông đã ngã bệnh. Ngôi nhà ở khu Hồ Tây của ông thật khó tìm. Có địa chỉ nhà do ông ghi cho mà tìm vã mồ hôi. Ông bảo có được ngôi nhà này là do con ông đi làm ăn ở nước ngoài mang tiền về mua đất và xây cất lên. Tài sản của ông chỉ có sách, mà ông bảo, con ông chẳng có đứa nào theo nghề bố cả, ông định sau ngày ông mất, ông sẽ hiến toàn bộ sách về cho địa phương- xã Cát Văn quê ông. Hai lần sau thì một lần là thăm ông trong bệnh viện, và một lần là thăm khi ông về dưỡng bệnh tại nhà con gái gần nhà nhà thơ Hoàng Cát. Tiếp tôi hai lần sau là chị Từ (vợ ông).

Chị Từ là một phụ nữ có gương mặt phúc hậu. Tôi đã đọc bài viết của ông, biết được mối tình của ông và cô học trò xinh đẹp, yêu văn chương và yêu thầy Vợi nhưng bị tổ chức cản ngăn vì gia đình bà là địa chủ. Nguyễn Bùi Vợi chấp nhận kỷ luật để giữ vẹn mối tình với bà. Cuộc đời ông đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, từ Hà Nội lên Phú Thọ, từ Phú Thọ lại trở về Hà Nội. Từ nhà giáo viết văn, viết lý luận phê bình, đến cán bộ ngành Văn hóa - Thông tin, rồi biên tập viên chương trình Văn nghệ của Đài Tiếng nói Việt Nam, ở đâu ông cũng để lại dấu ấn nghề nghiệp được mọi người kính nể.

Nguyễn Bùi Vợi là người viết giai thoại trong làng văn khá nổi tiếng. Giai thoại là những chuyện lưu truyền trong dân gian, người viết lượm lặt đây đó rồi tập hợp lại. Cái tài của người viết là biết chọn những chi tiết đời sống để nói ít, viết ngắn mà chứa đựng trong nó cả cái bi, cái hài, có khi chỉ là của một người nhưng nói được cả những xa xót của một thời kỳ nào đó của lịch sử. Nhiều giai thoại trong làng văn do Nguyễn Bùi Vợi kể có sức lan tỏa rộng lớn và sống mãi với thời gian. Nhà văn, cũng tùy theo quan niệm mà đến với độc giả, và lưu lại trong lòng độc giả bằng một cách nào đó.

Tài năng là thứ không thể bình đẳng trước mọi người bởi nó tiên thiên, bên ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nhưng tài năng nếu chỉ được sử dụng cho mục đích vinh thân phì gia thì người đời cũng chẳng mất thời gian quan tâm đến làm gì. Chỉ khi tài năng được sử dụng để phụng sự cho cộng đồng, cho xã hội thì mới được xã hội ghi nhận. Tôi có cảm giác như Nguyễn Bùi Vợi có được cái gì quý giá nhất của mình thì đem phụng sự hết cho nghề nghiệp, cho cộng đồng, cho quê hương, đất nước. Ông làm gì cũng nhiệt huyết , cũng thành tâm cả. Nhưng trớ trêu thay, không phải lúc nào ông cũng được ghi nhận, được đối xử công bằng với những gì mình đã cống hiến. Dẫu có những lúc bị đối xử không công bằng, ông vẫn sống lạc quan, ông vẫn sáng tác, vẫn hết lòng cho sự nghiệp chung, cho những người mà ông yêu thương, quý trọng.

Nói về thơ Nguyễn Bùi Vợi, có người cho rằng, thơ ông khi tập hợp vào một tập nó cứ na ná nhau, bình bình. Đúng là thơ ông không có sự bứt phá trong ngôn từ, trong hình thức, trong cách tân, đổi mới. Thơ ông là sự dung dị, là tiếng nói từ trái tim đa cảm của ông. Đòi hỏi ở nhà văn những cái gì không thuộc phong cách sáng tác của họ là hết sức phi lý. Đến với lòng người có muôn vạn nẻo. Ông có triết lý sáng tạo của mình. Một “Tiếng Nghệ”, một “Qua Thậm thình”, một “Bến cũ”… cũng đủ làm nên chân dung một tâm hồn thơ.

Không có cuộc đua tranh nào ở đây cả. Mỗi tác phẩm tự tìm cách đi vào lòng công chúng, không có điều kiện gì hết. Người già thì ai cũng phải trải qua tuổi trẻ, chứ người trẻ thì còn lâu mới có được cái trải nghiệm cuộc đời như họ. Có rất nhiều người sợ người đời sẽ nhanh chóng lãng quên mình nên vội vàng kết thân với trẻ, tự ỉ ôi cái thời mình, cái văn chương già cỗi của mình. Vâng, có quy luật của sự đào thải tất yếu của lịch sử, nhưng đau thương thì bền vững dài lâu. Ba trăm năm sau Nguyễn Du, Truyện Kiều vẫn nức nở đó thôi!

Sau ngày Nguyễn Bùi Vợi mất, tôi có ý định một ngày nào đó về quê, tôi sẽ lên Cát Văn quê ông để được nghe kể về thời ấu thơ của ông, để ra bến sông mà thuở nhỏ ông vẫn cho trâu đằm và tắm sông ở đó. Ông tắm phía thượng nguồn, còn tôi tắm phía dưới, có thể nghe được cả tiếng cười đùa nghịch ngợm của trẻ con hai xã Tiên Hội quê tôi và Cát Văn quê ông. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thực hiện được ước mơ đó.

Đời người ta có khi chỉ mươi, mười lăm năm đầu đời là sống ở quê, còn thì phiêu dạt làm ăn sinh sống nơi đất khách quê người cả cuộc đời, nhưng không có gì có thể làm phai mờ được ký ức tuổi thơ cả. Quê hương không chỉ là nơi sinh, nơi chôn rau, cắt rốn mà quê hương thấm đẫm trong lòng mỗi người bằng văn hóa, bằng ký ức tuổi thơ sâu đậm. Đấy chính là miền đất sáng tác suốt đời của nhiều nhà văn, trong đó có Nguyễn Bùi Vợi. Tôi nghĩ, ông đã quan niệm đúng, đã sống đúng và viết đúng, không có gì có thể thay được sự thành tâm, cả trong cuộc sống cũng như trong trang viết. Đó chính là triết lý mà tôi rút ra được từ chính Nguyễn Bùi Vợi - Người anh đồng hương mà tôi rất quý mến!


Lê Huy Mậu