Ngôi trường của những người thầy

(Baonghean) - Những ngày đầu tháng Tư, chúng tôi ngược về miền biên viễn xã Tri Lễ, huyện Quế Phong để thăm ngôi trường có 40 thầy giáo cắm bản với những câu chuyện cảm động, thấm đẫm tình thầy trò, dân bản…

Trường Tiểu học Tri Lễ 4 có 6 điểm trường nằm cheo leo, heo hút trên những bản làng lâu đời của người Mông. Hiện tại trường có 31 lớp với 528 học sinh đóng ở 6 bản khác nhau. Những năm về trước, từ trung tâm xã Tri Lễ vào các điểm trường này, các thầy giáo không có cách nào khác là phải cuốc bộ mất cả ngày đường, bất kể trời nắng hay mưa. Những cung đường vắt vẻo bên sườn núi, phía dưới là vực sâu hun hút... Với đặc thù như thế nên không thể “tuyển” các cô giáo “chân yếu tay mềm” để cắm bản dạy chữ. Thế nên đây là ngôi trường tiểu học duy nhất chỉ toàn thầy giáo.

Thầy Phùng Văn Mùi và học sinh trong giờ thể dục.
Mặc dù đã có dịp chinh phục những cung đường ngoằn ngoèo, dựng đứng ở miền Tây xứ Nghệ nhưng chúng tôi vẫn không khỏi toát mồ hôi khi băng qua đỉnh núi Pha Cà Tún để vào điểm trường nằm trên bản Huồi Mới 1. Nhìn vẻ mặt căng thẳng, hồi hộp của tôi, Thò Mái Xông, một người bạn đường pha trò: “Đường thế này là đẹp lắm rồi chứ vào mùa mưa lũ trơn trượt lắm, nhà báo muốn đi phải quấn xích vào bánh xe máy mới chạy nổi”. Sau hơn hai tiếng trèo đèo, lội suối, điểm Trường Tiểu học Huồi Mới 1 lợp bằng gỗ pơ mu hiện ra trước mắt chúng tôi. Trong không gian tĩnh mịch của núi rừng, tiếng đọc bài của các em vang lên một cách đều đặn, ấm cúng. Đón chúng tôi là cái bắt tay thật chặt của thầy giáo Thò Bá Sinh – Phó hiệu trưởng nhà trường. Tính đến thời điểm này, thầy Sinh đã có 26 năm gắn bó với học sinh ở những bản làng heo hút nhất của xã Tri Lễ. Nhìn chúng tôi với ánh mắt vui mừng, thầy xúc động  cho hay: “Đã lâu rồi mới có nhà báo về thăm trường. Đường hôm nay được mở rộng nên đi lại đỡ vất vả hơn chứ các năm trước thì gian nan, cực khổ lắm. Do xa xôi, cách trở nên cơ sở vật chất của trường còn thiếu thốn, cả thầy và trò đều phải cố gắng”.
 
Những lớp học đơn sơ được làm hoàn toàn bằng gỗ pơ mu, sa mu. Nơi đây do đường sá hiểm trở, không thể vận chuyển sắt thép, xi măng hay gạch ngói vào nên trường được dựng nên bằng nứa, gỗ tạm bợ.Theo thời gian, ngôi trường đã xuống cấp trầm trọng khiến việc học tập, ăn ở của thầy trò hết sức khó khăn. “Dân bản cũng đã mấy lần bàn với nhau sửa lại trường học, nơi ở cho các thầy nhưng bây giờ gỗ trên rừng khan hiếm, không biết kiếm đâu ra. Nhìn các thầy vất vả, nhiệt tình gieo chữ cho con em người Mông, cái bụng dân bản chúng tôi biết ơn nhiều lắm!” - Trưởng bản Huồi Mới 1 - Thò Chia Chư tâm sự.
 
Một ngày mới của các thầy ở miền sơn cước bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng. Do không có nhà bếp tập thể nên các thầy kiêm luôn đầu bếp. Buổi sáng, món được “ưa chuộng” nhất là mì tôm. Có những hôm do trời mưa gió, không thể ra ngoài mua được nên các thầy đành phải lên lớp với cái bụng đói. Thầy Nguyễn Văn Khoa (quê Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu) tâm sự: “Ở đây xa trung tâm xã nên thức ăn cũng thất thường lắm, vào mùa mưa lũ phải ăn cơm nước mắm, bột canh cả tuần liền. Đời sống các thầy thì vất vả nhưng được dạy chữ cho các em là vui lắm rồi”. Thầy Khoa lên dạy học ở Quế Phong đã 7 năm nay, do đường xá xa xôi, hiểm trở nên cứ vài ba tháng hay có dịp lễ tết, thầy mới tranh thủ về xuôi thăm vợ con.
 
Ngày trước ở nhà, không ít thầy chẳng biết nội trợ, bếp núc là gì, nhưng khi lên đây ai cũng phải tự túc nấu ăn. “Thời gian đầu lên cắm bản, các món mình nấu dở lắm, cơm khê, cơm sống, mặn nhạt thất thường. Tuy nhiên sau vài năm tự túc, giờ ai cũng có thể trở thành đầu bếp. 6 điểm trường toàn là nam nên anh em ai cũng phải cố gắng học hỏi, thích nghi dần để tự phục vụ cho nhau” – thầy Hà Văn Bốn, giáo viên ở điểm trường Nậm Tột cho biết.
 
Mới ra trường nhưng thầy Phùng Văn Mùi (quê Châu Kim, Quế Phong) đã được phân công về dạy học ở vùng biên giới hẻo lánh. Tuổi trẻ, những đêm cô quạnh giữa rừng không ánh điện khiến thầy giáo trẻ không khỏi chạnh lòng nhớ gia đình, người yêu. Mùi chia sẻ: “Các điểm trường toàn nam nên cũng hơi buồn, mọi công việc từ nấu ăn, rửa chén, giặt giũ… các thầy đều phải tự tay làm hết. Ban đầu thì còn thấy bỡ ngỡ vì ở nhà ít làm, nhưng sau một thời gian, ai cũng quen dần”.
 
Đa số các thầy giáo cắm bản của Trường Tiểu học Tri Lễ 4 chủ yếu người Kinh, Thái, còn các em học sinh chủ yếu người Mông. Vì vậy để dạy và truyền đạt kiến thức cho các em, các thầy phải tìm hiểu phong tục, tập quán của người bản địa, đặc biệt là phải hiểu tiếng Mông. “Ngoài việc soạn giáo án để lên lớp, còn phải học tiếng Mông từ người dân hay các em học sinh. Nơi đây cách trở các em không được giao lưu với thế giới bên ngoài nên nếu chỉ giảng dạy bằng tiếng Kinh nhiều lúc các em không hiểu. Học và biết tiếng Mông, khiến mình cảm thấy gần gũi, thân thiết với bà con dân bản và các em nhiều hơn” – Thầy Hoàng Văn Quang, giáo viên cắm ở bản Huồi Xái 1 tâm sự. Để ý mới hay, trên bàn soạn giáo án của các thầy, những quyển vở ghi chép chi chít tiếng Mông như những cuốn “từ điển”. Em Thò Y Nu đang học lớp 5 trò chuyện với chúng tôi bằng tiếng Kinh rất thông thạo: “Nhờ sự dạy dỗ của các thầy, bây giờ em đã nói tiếng Kinh rất tốt, học bài cũng nhanh hiểu hơn. Em ước mơ là sau này được học lên cao đẳng, đại học, quay về giảng dạy cho các em người Mông ở đây”.
 
Từ những mái trường nghèo khó nằm vắt vẻo trên đại ngàn Trường Sơn này, đã có những thế hệ học trò lớn lên, đi học đại học, cao đẳng rồi quay trở về giảng dạy, cống hiến sức trẻ cho bản làng. Trò chuyện với chúng tôi, thầy giáo trẻ Thò Bá Chò không giấu được vẻ tự hào: “Khi mới ra trường, em có rất nhiều lựa chọn nhưng cuối cùng quyết định về đây dạy học. Có cái chữ, đời sống người Mông mới bớt vất vả, hạt lúa, hạt ngô làm ra cũng tốt tươi, năng suất hơn”.
 
Trên miền cao biên viễn của huyện Quế Phong, những người thầy của Trường Tiểu học Tri Lễ 4 đã vượt qua bao khó khăn, gian khổ, ngày đêm bám bản, gieo chữ cho học sinh người Mông, Thái. Hy vọng vào một ngày không xa, sự học ấy sẽ thay đổi diện mạo các bản làng nghèo khó. 
 
 
Triều Dương