Nhà nước và tôn giáo

(Baonghean) - Tôn giáo là một trong những đặc trưng của xã hội loài người. Bắt nguồn từ khả năng tư duy, nhận thức thế giới và bản ngã, tôn giáo là kết tinh của tâm tư tình cảm, khát vọng và triết lý sống, là một trong những thành quả vĩ đại nhất của văn minh nhân loại. Không phải tự nhiên mà tồn tại nhiều tôn giáo trải dài theo mốc không gian và thời gian, lưu truyền từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, trải qua bảo tồn - biến dị - dung nạp - khai sáng để tạo nên một nền văn hoá tâm linh nhân loại đa màu sắc.

Thuyết giáo và giáo điều của mỗi tôn giáo có thể khác nhau nhưng giao thoa ở đức tin vào một thế lực siêu nhiên hiển linh dưới hình hài ít nhiều gần gũi với “người trần mắt thịt”. Đấng Toàn Năng, Đấng Khai Sáng đó chính là biểu tượng của những gì tốt đẹp, lí tưởng và mẫu mực nhất mà con người mong muốn và tự có ý thức phải noi theo.

Lịch sử phát triển tôn giáo Việt Nam khởi nguồn từ những thế kỉ đầu công nguyên với sự du nhập của đạo Phật từ Ấn Độ. Đạo Phật trở nên thịnh hành và đạt đến thời kì hoàng kim dưới thời Lý - Trần. Xuất hiện muộn hơn đạo Phật là đạo Công giáo, hay còn gọi là Gia-tô giáo, Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo với sự truyền giảng của các giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cả hai tôn giáo trên đều trải qua những thời kì lịch sử đầy biến động, chứng kiến sự tàn lụi hay khai sinh của một xã hội, dần dần dung nạp những truyền thống, phong tục của Việt Nam để hoà hợp với nền văn hoá lâu đời của người Việt, đồng hành cùng đất nước trong quá trình đổi mới.

Đến nay, ngoài hai tôn giáo trên, Việt Nam còn dung nạp những tôn giáo khác như Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi giáo,...Tôn giáo với vai trò chăm lo cho đời sống tinh thần, chung quy đều hướng con người tới cái tốt, cái thiện. Như vậy, tôn giáo là một bản thể vừa độc lập lại vừa nhất quán với con người: đời sống tâm linh không được ảnh hưởng, chi phối những khía cạnh khác của xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục,... nhưng đồng thời cũng là điểm tựa cho tư tưởng, suy nghĩ của ta không bị chông chênh và lạc hướng.

Đạt tới sự tồn tại hoà hợp của tôn giáo trong lòng xã hội như vậy không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động tôn giáo mà còn đòi hỏi sự quan tâm, hỗ trợ từ chính quyền. Phải làm sao để tạo điều kiện cho người dân sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng trong khuôn phép pháp lý và đem lại lợi ích cho toàn xã hội, đây là điều mà Đảng và Nhà nước Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng luôn quan tâm.



Tặng xe đạp cho học sinh nghèo học giỏi nhân Tuần Văn hoá Phật giáo (2012)

Lấy nghề truyền thống nuôi đạo

Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533 nhưng phải đến năm 1615, với sự truyền đạo của những giáo sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha, đạo Công giáo mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Theo tài liệu của giáo hội, trong khoảng thời gian từ năm 1615 đến 1665, có khoảng 100 nghìn tín đồ trên toàn quốc. Riêng ở Nghệ An năm 1593 đã có tới 12 làng Công giáo toàn tòng. (theo Một số tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo).

Như vậy, Công giáo có một lịch sử phát triển khá lâu đời ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh chính trị - văn hoá khá phức tạp của cuộc chiến tranh thuộc địa phát động bởi các nước phương Tây. Tuy nhiên, vượt qua những mâu thuẫn và xung đột trong một thời kỳ biến động, Công giáo vẫn bền bỉ đồng hành cùng dân tộc và trở thành tôn giáo phổ biến thứ 2 tại Việt Nam. Riêng ở Nghệ An, ông Phan Hải Thanh - Phó Chủ tịch Uỷ ban đoàn kết công giáo tỉnh cho biết hiện nay có 10 giáo hạt, 85 giáo xứ, 339 giáo họ với 50 843 hộ, chiếm 8% dân số toàn tỉnh. Dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều nhà thờ được xây mới khang trang, nhiều cơ sở thờ tự được sửa chữa, nâng cấp tạo điều kiện cho bà con giáo dân an tu việc đạo, việc đời. Về phía bà con giáo dân cũng có những đóng góp nhất định vào giữ gìn giá trị truyền thống, phát triển kinh tế.

Về thăm làng nghề bánh Vĩnh Hoà qua lời “quảng cáo” của một người bạn, ấn tượng đầu tiên là những biển hiệu xếp thẳng hàng dọc theo đường tỉnh lộ của những nhà bán bánh chưng, bánh mướt, bánh gai, cu đơ. Làng Vĩnh Hoà là làng Công giáo toàn tòng duy nhất trong số 11 làng (xóm) của xã Hợp Thành, huyện Yên Thành, với trên 200 hộ có nghề làm bánh chưng truyền thống. Chúng tôi gặp anh Lưu Đức Bằng - trưởng làng nghề Vĩnh Hoà lúc anh đang ngồi nói chuyện ở nhà anh Trần Quốc Khánh.

Anh Bằng kể rằng nghề này truyền từ thời ông bà, cụ kị, khi anh mới 12, 13 tuổi đã thấy bố mẹ gói bánh chưng và cũng bén duyên với hạt nếp và lá dong từ đó. Vợ anh Khánh bóc một cặp bánh chưng, một gói kẹo cu đơ ra mời khách. Chiếc bánh chưng khoảng bằng bàn tay, xanh mướt, cắt ra thấy nhân đậu xanh và thịt đầy đặn, chắc nịch. Anh Bằng giục chúng tôi ăn thử để xem bánh chưng Vĩnh Hoà có đúng như lời đồn đại không, nói thêm rằng anh Khánh là người gói bánh chưng ngon có tiếng ở làng này.



Chị Hoàng Thị Châu - giáo dân làng Vĩnh Hòa bên quầy bánh chưng - cu đơ

Cái trải nghiệm ăn bánh chưng và kẹo cu đơ - hai món ăn quốc hồn quốc tuý đặc trưng của Việt Nam và của Nghệ An dưới cái nhìn trìu mến của Chúa Giê-su và Đức mẹ Đồng Trinh, có lẽ không bao giờ chúng tôi quên. Làm sao một dòng tư tưởng, triết lý du nhập từ nước ngoài với những thể thức, lễ nghi thần thánh trang nghiêm lại có thể hoà quyện vào những giá trị cổ truyền dung dị thuần Việt một cách tự nhiên và hoà hợp đến thế? Vị bùi, dẻo của miếng bánh chưng và vị ngọt phảng phất mùi gừng thơm của cu đơ quyến luyến, bao bọc nhau. Tình mến thương bác ái đó được châm đượm bằng thứ nước chè gay Đô Lương, như dòng suối phúc âm mát lành chảy trong luỹ tre xanh ngàn đời của dân tộc.

Hỏi thăm tình hình kinh tế của bà con làng giáo Vĩnh Hoà, trưởng làng Lưu Đức Bằng phấn khởi cho hay rằng nhờ vào nghề làm bánh truyền thống mà nay 100% hộ đã có xe máy, hơn 30% hộ đạt kinh tế khá, giàu. Đặc biệt, một vài con em của làng đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và quay về quê hương, tham gia vào bộ máy chính quyền hay giảng dạy trong các trường học. Năm nay có khoảng gần 20 cháu tham dự kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng thì gần 50% trúng truyển. Những đổi mới không ngừng trong các pháp lệnh, chính sách tôn giáo cùng công tác tôn giáo của chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho bà con giáo dân nơi đây làm tròn bổn phận con chiên và con dân, sống tốt đời đẹp đạo. Anh vui vẻ kể rằng những ngày lễ trọng của Công giáo, các đồng chí lãnh đạo chính quyền xã và huyện còn bận rộn hơn những gia đình theo đạo vì được tất cả các hộ gia đình mời đến chung vui.

Nhìn vào trong nhà, thấy trên tường là bàn thờ Chúa Giê-su và các vị thánh. Con trai anh Khánh đặt cuốn sách “Phương pháp mới giải nhanh trắc nghiệm vật lí” xuống bàn, đưa cho mẹ tập phiếu khảo sát sản phẩm chế biến mang địa danh ở Nghệ An. Người dân Vĩnh Hoà với cuộc sống hài hoà giữa đạo và đời đã lưu giữ được một nghề truyền thống đáng quý của dân tộc, nhờ đó nuôi phần xác để vun đắp phần hồn.

Sống phúc âm giữa lòng dân tộc

Rời làng nghề truyền thống Vĩnh Hoà, chúng tôi đến xã Nghi Xuân, Nghi Lộc, nơi có số lượng người đi xuất khẩu lao động lớn, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho địa phương. Được biết, những người dân đi xuất khẩu lao động đều được quỹ tín dụng nhân dân xã Nghi Xuân (thành lập năm 2006 theo chủ trương của Hội đồng nhân dân xã) tư vấn và cho vay vốn. Giám đốc điều hành kiêm chủ tịch hội đồng quản trị là anh Đặng Hoàng Phượng, cũng là chủ công ty khai thác hải sản Hoàng Thành.

Lúc chúng tôi đến, quỹ tín dụng nhân dân xã Nghi Xuân đang vắng người giao dịch. Anh Phượng cho biết thời điểm đông người giao dịch nhất là lúc bà con đến trả lãi vào cuối mỗi quý. Khởi điểm chỉ với 85 thành viên sáng lập và nguồn vốn hơn 200 triệu, đến nay, quỹ tín dụng đã có 878 thành viên với số vốn đạt gần 27 tỉ đồng theo báo cáo tổng kết của 6 tháng đầu năm 2013 (vượt chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 đề ra là 25 tỉ). Từ khi thành lập, quỹ đã cho hơn 215 lao động (tính theo luỹ kế) vay số tiền hơn 22 tỉ để xuất khẩu sang các nước như Hàn Quốc, Đài Loan. Một điểm đặc biệt thú vị là những người dân vốn quen nghề sông biển của xã Nghi Xuân khi đến với quỹ tín dụng đã được tư vấn đi xuất khẩu lao động theo đúng “sở trường” của họ: đánh bắt xa bờ (Đài Loan) hoặc gần bờ (Hàn Quốc).

Có lẽ cái nghiệp sông biển với anh là một mối cơ duyên, anh Phượng cho hay khi kể lại câu chuyện của những chiếc thuyền cá lênh đênh trôi dạt từ Thanh Hoá về đây. Năm 1960, theo lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước, bố mẹ anh lên bờ an cư lập nghiệp tại xã Nghi Xuân. Từng là thành viên hợp tác xã đánh cá Vạn Xuân ở mọi vị trí: thợ máy, thuyền trưởng, quản lí, cán bộ phong trào, người Đảng viên vùng giáo với ý chí vươn lên làm kinh tế này đã từng làm chủ một xưởng sản xuất đá (công suất 18 tấn) và một xe du lịch 16 chỗ chạy tuyến Vinh - Hà Nội.

Cuộc đời anh cuối cùng “neo đậu” lại ở quỹ tín dụng nhân dân Nghi Xuân và công ty khai thác hải sản Hoàng Thành với con tàu “Hai cột” công suất 140CV, được mệnh danh là “con tàu may mắn” chưa bao giờ thua lỗ. Công ty khai thác hải sản Hoàng Thành của anh tạo công ăn việc làm với thu nhập ổn định trung bình 5 - 8 triệu đồng/người/tháng cho 16 lao động trực tiếp, chưa kể 12 lao động gián tiếp. Thực hiện lời dạy của Chúa về lòng bác ác và truyền thống “Lá lành đùm lá rách” của dân tộc, anh Phượng đã vận động các thành viên của quỹ tín dụng và công ty Hoàng Thành gây quỹ làm việc bác ái. Năm 2011, 2012, quyên góp được 32 triệu đồng xây nhà tình nghĩa cho 2 hộ nghèo, ủng hộ các chi hội người cao tuổi và tặng quà khuyến học cho các em học sinh nghèo vượt khó của địa phương.

Ngỏ ý muốn được chiêm ngưỡng tận mắt con tàu “Hai cột”, anh Phượng tiếc rẻ thông báo rằng tàu đi đánh bắt đã được 3 hôm, chắc phải vài ngày nữa mới quay về. Chúng tôi  liền theo chân một nhân viên quỹ tín dụng đến nhà chị Đậu Thị Hiển, vợ thuyền trưởng Đậu Thành Kính ở xóm Xuân Dương, Nghi Xuân để hỏi thăm tình hình cậu con trai út đi du học Quản trị kinh doanh ở Úc bằng tiền vay của quỹ tín dụng. Trong căn nhà khang trang, chung khoảng sân rộng với gia đình người họ hàng, chị Hiển đang dở tay cho 50 con gà ăn, ngoài nghề đi biển của chồng, chị vẫn nuôi thêm con lợn, con gà để tăng thu nhập. Tham quan nhà, thấy dưới bàn thờ Chúa là bàn thờ bố chồng và anh chồng chị. Chị cho hay anh chồng chị đi chiến đấu ở chiến trường Campuchia, hi sinh năm 23 tuổi.

Người đàn bà với nước da rắn rỏi của miền biển kể về những chuyến đi biển của chồng với nỗi nhớ niềm mong, nhưng cũng không khỏi tự hào cho hay năm 2003, tàu “Hai cột” đã cứu sống cả gia đình anh “Năm râu” (Nghi Xuân) gặp nạn khi đi đánh bắt cá. Hàng năm, tàu anh Kính điều khiển vẫn phối hợp với hải đội biên phòng 2 tuần tra nắm bắt tình hình an ninh vùng biển. Ngày 19/7 vừa qua, anh Kính và các thuyền viên còn tham gia diễn tập với huyện đội và tỉnh đội. 

Vậy là, ngay trong lòng dân tộc, những người Công giáo sống Phúc âm với ý chí làm kinh tế đã làm cho mảnh đất Nghi Xuân thêm mặn mòi. Không chỉ vậy, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay bên bàn thờ Chúa trên những con tàu như đôi mắt trấn giữ từng hải lý trên biển đảo quê hương.



Tăng ni phật tử chùa Phúc Thành (Hưng Nguyên) tham gia tiếp sức mùa thi đại học năm 2013

Đạo giáo - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội

Chúng tôi gặp Thượng toạ Thích Thọ Lạc, Phó ban thường trực ban Trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nghệ An, trụ trì chùa Đại Tuệ ngay trước cuộc họp của 15 vị sư trụ trì các chùa trên địa bàn tỉnh. Được biết, đây là cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị phổ biến chính sách, Pháp Luật về Tôn giáo cho các tăng ni, phật tử diễn ra vào ngày 31/7, 1/8, phối hợp tổ chức cùng Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An.

Thành lập từ năm 2011, nhờ sự giúp đỡ, quan tâm của các cấp chính quyền và tinh thần đoàn kết của các tăng ni, phật tử, hoạt động của ban Trị sự đã dần đi vào ổn định về mặt nhân sự và cơ sở vật chất. Hiện có 40 vị sư sinh hoạt trên địa bàn đang trong quá trình xem xét các điều kiện để đăng kí hợp thức hoá, 36 ngôi chùa được Nhà nước cấp phép tôn tạo, phục hồi như chùa Đại Tuệ, Trung Linh, Cần Linh, Phúc Lạc, Phúc Thành, Cầu Am, chùa Gám... Đặc biệt chùa Đại Tuệ được quy hoạch với quy mô lớn, hiện đã hoàn thành một số hạng mục như chính điện, tăng xá, nhà cư sĩ, Huệ Sơn Đại Phật...Nhờ đó, các sinh hoạt Phật sự trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, với sự hiện diện của các cơ quan chức năng bảo vệ trật tự trị an để tăng, ni, phật tử an tâm hành đạo.

Ban Trị sự Hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nghệ An xác định hoạt động theo đường hướng đồng hành cùng dân tộc, tuân thủ Pháp lý và Hiến chương của Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam. Những hoạt động từ thiện, hoạt động cộng đồng như chương trình mổ tim cho người nghèo (riêng chùa Đại Tuệ quyên góp được hơn 200 triệu), gây quỹ từ thiện tại Đại Lễ Phật Đản để ủng hộ người nghèo,...là minh chứng rõ nhất cho những đóng góp của Phật giáo vì lợi ích cộng đồng.



Lãnh đạo huyện và Hội Doanh nhân huyện Thanh Chương
trao quà cho hộ nghèo

Thượng toạ Thích Thọ Lạc cũng bày tỏ mong muốn tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện để các sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng Phật giáo Nghệ An ngày càng phong phú. Những hoạt động như Tuần lễ văn hoá, Ngày tu an lạc giảng dạy Phật pháp, khoá An cư kết hạ tại chùa Đại Tuệ và chùa Cần Linh, Đàn giới và Đại lễ Phật Đản vừa giúp cho tăng, ni, phật tử tu tập hoàng pháp vừa phổ biến sâu rộng các Pháp lệnh của nhà nước để sinh hoạt tôn giáo ngày càng lành mạnh về đạo và đời.

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Long, Phó Trưởng ban Tôn giáo tỉnh Nghệ An đã trao đổi một cách cởi mở và thân mật với các tăng, ni, phật tử đến tham dự về cái “cơ duyên” đã khiến mình gắn bó với công tác Tôn giáo. Đồng thời, đồng chí cũng khẳng định, muốn hành động đúng thì phải nhận thức đúng, muốn nhận thức đúng thì phải hiểu biết đúng. Muốn hiểu được Tôn giáo cũng như suy nghĩ, tâm tư của đồng bào tín đồ Tôn giáo, không có cách nào khác ngoài việc nuôi dưỡng đức tin, đặt mình vào vị trí của một tín đồ thay vì nhìn và đánh giá bằng những hiểu biết mình vốn có. Qua đó, đồng chí Nguyễn Văn Long truyền đạt lại quan điểm cởi mở của Đảng và Nhà nước về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, và khẳng định: “Nếu như các sinh hoạt tôn giáo chính đáng và tuân thủ pháp luật, đảm bảo chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện cho tôn giáo được phát triển vững bền”.
 
Qua quá trình lịch sử lâu dài tồn tại và phát triển ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, tôn giáo đã chứng minh được sự ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần của tín đồ mà không gây trở ngại cho việc hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân tốt. Làm được như vậy, cần sự nhất quán, kết hợp giữa tuân thủ giáo điều, giữ gìn truyền thống dân tộc và chấp hành luật pháp của nhà nước. Trong Thông cáo của Đại hội lần III Hội đồng Giám mục Việt Nam (1986) viết: “Chúng ta vừa là người Công giáo, vừa là người công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hai phẩm tính đó không thể mâu thuẫn nhau, nếu chúng ta sống đạo đích thức và có lòng yêu nước chân thành”. 

Có nghĩa là người Công giáo cũng là người Việt Nam, tuy hai danh xưng mà cùng một bản thể. Sự thống nhất giữa tôn giáo và phẩm tính công dân cũng hiện diện trong Phật giáo, tạo thành nét riêng của Phật giáo Việt Nam. Như lời Hoà thượng Thích Gia Quang, Phó Tổng thư kí Hội đồng Trị sự, Chánh văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt nam: “Phật giáo đã được người Việt thổi vào trong nó tinh thần yêu nước cao độ, từ một tôn giáo xuất thế thành một tôn giáo nhập thế tích cực, góp phần quan trọng củng cố nhân tâm, đoàn kết cộng đồng”.

Như vậy, các tôn giáo dù đa dạng và khác biệt về tư tưởng, triết lí nhưng không phải là không thể “thống nhất” được. Suy cho cùng, tôn giáo hay phi tôn giáo đều có những niềm tin và hệ giá trị nhất định, mà nếu tìm thấy điểm giao thoa sẽ có thể hoà hợp được tôn giáo với tôn giáo, tôn giáo với phi tôn giáo, phục vụ cho lợi ích cộng đồng. Sứ mệnh dung hoà đó ở trong tay của Đảng và Nhà nước và chìa khoá cho nhiệm vụ này chính là xây dựng nhà nước “của dân, do dân, vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nước Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia-tô tin ở Đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân, ta đừng làm trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”. Tư tưởng vĩ đại và nhân văn này của Người đã, đang và sẽ luôn là cốt lõi cho chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đưa đất nước đi lên trên con đường đổi mới.


Hải Triều - Thanh Thuỷ