Tiếng tù và biển cả

(Baonghean) - Khách sạn Đại Dương mùa này biển vắng, ít người. Trời đã vào thu se se lạnh. Phòng của tôi ở gần phòng của hai bố con họa sỹ. Nhiều lần, tôi thấy chú bé làm mẫu cho bố vẽ. Những lần gặp nhau ở nhà ăn, chú bé chỉ nhìn tôi nhoẻn miệng cười. Hai bố con ngồi ở một bàn  phía trong lặng lẽ như hai cái bóng. Ăn xong họ dắt tay nhau đi dạo chơi dọc biển. Hỏi ra tôi mới biết cậu bé bị câm bẩm sinh. Họa sỹ kể, khi sinh chú là một ca đẻ khó.
 
Minh họa: Hữu Tuấn
 
Mẹ chú đã vật vã từ chiều đến nữa đêm vỡ ối mà cái thai vẫn không chịu ra. Bà Hiểu – bà mụ trong xóm đã dùng nhiều bí quyết gia truyền dân gian, nhưng chú bé vẫn bướng bỉnh nằm chặn ngang không quay đầu được. Họa sỹ ngước mắt lên bắt gặp cái tù và sừng trâu treo trên vách tường mà lần đi vẽ ở Tây Nguyên được một già làng tặng. Già làng bảo, lúc nào con thầy bí bách trong người thì mang tù và của ta ra thổi sẽ có các vị thần linh, thần rừng giúp đỡ. Chiếc sừng trâu ấy đã lâu ông không dùng đến, nước da đen bóng ông chỉ treo như một vật trang trí trong nhà. Họa sỹ bước ra ngoài sân và đưa tù và lên thổi.
 
Tiếng tù và thoạt đầu nghe nghèn nghẹn thổi phù phù sau đó như được mở toang cánh cửa phát ra tiếng: Oa … Sản phụ cố gồng mình cũng thét lên tiếng: oa … như một khao khát chờ tiếng khóc của đứa trẻ. Sau tiếng kêu thất thanh ấy cái thai nhi bé bỏng được đẩy ra ngoài như có một lực co bóp mạnh từ phía trong. Bà Hiểu nâng chú bé trên tay và phát vào mông chú mấy cái với tiếng dỗ dành: “Khóc đi cháu, khóc đi nào”. Nhưng chú bé mắt vẫn nhắm nghiền mặt tái mét không một tiếng khóc bật ra như những đứa bé bình thường khác. Mẹ chú mệt lã đuối sức dần chỉ kịp trở mình giơ hai tay chới với như muốn ôm chú vào lòng và tắt thở. Chú bé lặng câm từ đó. 
 
Tranh của họa sỹ vẽ ở biển nhưng phần lớn là tĩnh vật, những bình hoa, chùm quả, chiếc ghế... có vẻ thiêu thiếu cô đơn làm lệch hẳn cả một góc tranh. Và rất nhiều hình tù và sừng trâu như một sự ám ảnh. Hình như chính sự yên tĩnh bình lặng của căn phòng cùng với sự dữ dội hoang dã của biển cả giữ cho ông một nỗi niềm canh cánh. Một sớm, họa sỹ sang phòng tôi và nhờ tôi tìm cho ông một mẫu người ngư dân thổi tù và. Tôi vốn quen nhiều người đàn ông ở vùng biển này. Họ có thân hình gồ ghề, bắp tay, vồng ngực cuồn cuộn nhưng bắp chân thì hơi teo lại. Trong số thực khách hay lên uống rượu ở đây tôi để ý đến lão Hóa. Nghe nói lão sống một mình và rất khéo tay. Ngoài những ngày đi biển đến mùa mưa bão khi lên đất liền căn phòng nhỏ của lão thành một xưởng thủ công mỹ nghệ.
 
Những chiếc ri đô làm bằng vỏ ốc nhỏ treo lên thật bắt mắt như nghe cả tiếng rì rào của sóng biển. Rồi những chiếc thuyền buồm được làm bằng vỏ ốc. Những cánh san hô được gắn kết thành những khu vườn hoa đá sặc sỡ sắc màu. Tôi cùng bố con họa sỹ như lạc vào một thế giới khác. Lão Hóa thổi hồn vào những vỏ ốc, vỏ sò, vỏ trai đã chết   một linh hồn sống mới. Nước thời gian đánh bóng in cả dấu vân tay của lão. Chú bé tò mò và thích thú nâng trên tay những vỏ ốc tù và đủ các kiểu. Chú thổi nhưng không một âm thanh nào thoát ra. Có một sự bí ẩn về kỹ thuật nào đó chăng hay hơi thở của chú yếu . Nhiều lần tôi bắt gặp chú bé và Lão Hóa rủ rỉ với nhau. Thì ra lão đang kể những bí ẩn biển cả mà chỉ có riêng chú bé mới hiểu được qua tiếng rì rầm của lão Hóa như tiếng sóng biển rì rầm ở ngoài kia …
 
Lão Hóa có biệt tài nghe được tiếng cá. Nhiều thuyền mời lão đi để “nghe cá” ra đến ngư trường, lão đã ngà ngà say đánh một giấc ngủ sâu ngáy gỗ rung cả sạp thuyền mặc ai làm gì xung quanh cũng không đánh thức lão được. Lão nằm nghiêng một tai áp vào mạn thuyền. Trong tiếng máy đẩy nổ giòn, thuyến xé sóng lướt đi trắng xóa, đột nhiên lão trở mình bật dậy như một cái lò xo rồi ngồi bất động. Các bạn thuyền phút giây ấy lặng phắc và chăm chú nhìn lão. Hình như các đường gân, múi thịt của lão cũng căng lên động đậy và cuộn như sợi neo siết chặt. Lão “khà” một tiếng thật to và thủng thẳng nói: “Ở làn Rạo này có cá”. Có lần tôi nghe đám ngư dân kể lão còn tinh mắt những hôm đẹp trời biển lặng leo lên cột buồm căn cứ vào sắc màu đổi thay của nước biển dưới đó đoán được có làn cá gì. Lão bảo: Có khi muốn xác định chính xác phải nhảy xuống nước cách be thuyền khỏang nửa mét. Dưới nước đôi tai thính nhạy của Lão có thể nghe được âm thanh truyền đi dăm cây số. Có cá hướng nào thì nước chảy mạnh theo hướng đó. Cá sóc kêu cụp... cụp. Cá sóc trắng kêu tọc... tọc. Cá ngao vàng đuôi kêu lục đục... Lục đục. Và để xác định rạn san hô cá ẩn dưới biển lão chỉ nghe tiếng rì rào biết đó là rạn thấp, còn rạn cao phát ra tiếng nổ lách tách liên tục như khi ta rang bắp. 
 
Sắp đến ngày về, họa sỹ nhờ tôi mời lão Hóa làm mẫu để vẽ. Bức hình có chủ đề về lão ngư đang thổi tù và báo tin cho thuyển câu về tránh bão. Lão Hóa đánh một chiếc quần lửng may bằng vải buồm màu nâu. Thật lạ, lão chỉ thích mặc loại vải nhuộm củ nâu thô nhám này, vừa bền vừa như nghe được tiếng sột soạt của gió và hằn những nếp gấp màu muối của nước biển. Lão Hóa chọn cái tù và lâu nay lão cất cẩn thận trong cái rương gỗ hình vuông chằn chặn bọc một lớp vải đỏ. Cái rương này ngày trước lão chuyên đựng dụng cụ câu cá, trong đó có ngăn ra nhiều ô đựng các loại cước và lưỡi câu, hòn chì to nhỏ khác nhau. Thật lạ, không biết chiếc rương làm bằng gỗ gì mà không bao giờ mối mọt. Ở trên thuyền có thể đặt làm cái ghế để ngồi câu hàng giờ không mỏi. Rơi xuống nước, gỗ tự nhiên nở ra khít chặt lại các mối ngăn như được gắn một lớp keo nổi bềnh bồng thành cái phao cứu sinh khoác dây vào người thì đố sóng nào có thể đánh bật ra được.
 
Trong đó chỉ cần chai nước khoáng, vài phong lương khô là đủ sống vài ngày trên biển khi bị lật thuyền. Chiếc tù và của lão là vỏ một con ốc khá to nhưng lão để nguyên vẻ xù xì thô rám của nó. Chú bé khi bắt gặp chiếc vỏ ốc tù và thì thân hình bé nhỏ rung lên. Hình như có một sức hút nào đó truyền từ cái vỏ ốc sang người chú. Ráng chiều lấp lánh ánh bạc bắt với màu xà cừ của vỏ ốc tạo nên một gam màu phản quang rạng ngời hiếm thấy, họa sỹ bảo thế. Đôi tay lực lượng quen kéo neo, kéo lưới cuộn sóng của lão Hóa giơ cái tù và lên ngang tầm khuôn mặt đỏ au nhuộm rượu, nhuộm nắng, nhuộm biển để họa sỹ bắt đầu đưa những nét cọ tạo hình. Cả thân hình lão nhoài ra biển đứng bất động như một pho tượng đã đổ khuôn. Chú bé mở to đôi mắt thường ngày lặng buồn giờ sáng lên chấp chới, hai tay chú cũng giơ lên theo tư thế của lão Hóa.
 
Hai bóng người, một già, một trẻ cùng kiểu dáng đổ xuống cát chiều mịn còn ấm nóng hơi người, hơi biển. Đôi mắt chú bé nhìn lão Hóa không chớp như có vẻ cầu khẩn điều gì đó. Họa sỹ mải mê vẽ, còn tôi như dán mắt vào từng cử chỉ bất thường của chú bé. Lão Hóa quay sang chú bé và mỉm cười. Đây là lần đầu tiên tôi thấy lão cười làm cho khuôn mặt rạng rỡ tươi trẻ lại mấy chục tuổi. Lão đưa tù và lên hít một hơi dài thổi căng lồng ngực. Tiếng tù và bật ra: “Oa, oa, oa...” vang vọng ngân xa như chưa bao giờ tôi được nghe thấy. Tiếng tù và xoắn lòng, xoắn ruột, xoắn những dòng âm thanh theo tiếng sóng vọng lại. Bất ngờ, chú bé bật lên tiếng kêu hòa âm: “Oa, oa, oa... “ họa sỹ sững sốt đánh rơi cây bút lông và giơ hai tay giang rộng chạy lại ôm choàng lấy chú bé quay một vòng tròn giọng lắp bắp như nhíu lưỡi: “Con... con tôi nói được rồi”, nước mắt ông trào ra. Cả hai bố con chảy ùa ra giang rộng vòng tay mình vào lòng biển cả. Tiếng tù và của lão Hóa vẫn không dứt: Oa... oa... oa. Tiếng sóng biển dội lại: Oa... oa... oa... Tiếng vọng biển khơi hòa vào những âm thanh như mới được vỡ ra từ chú bé: Ba… ba... ba...
 
Truyện ngắn của
 Nguyễn Ngọc Phú (Hà Tĩnh)