Từ sự kiện "Túc Vinh" tới "Nhật ký trong tù"

(Baonghean.vn) Sự kiện "Túc Vinh" diễn ra chiều ngày 27/8/1942 tại phố chợ Túc Vinh ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đến nay (2012) vừa tròn 70 năm. Đây là dấu ấn đặc sắc và cũng là sự việc khởi nguồn cho Tập thơ nổi tiếng "Nhật ký trong tù" trên hành trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.

Sáng sớm ngày 13/8/1942, từ căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, Hồ Chí Minh dưới sự tháp tùng của Lê Quảng Ba đã bước qua biên giới Việt - Trung đi Trùng Khánh với mục đích nắm bắt tình hình Thế chiến II, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, tuyên truyền phong trào chống phát xít ở Việt Nam. Con đường từ Cao Bằng tới Trùng Khánh (Trung Quốc) qua Tịnh Tây là con đường gần nhất.



Bức thư pháp của Tần Thắng Quốc (Trung Quốc) về bài thơ "Vô đề" trong tập "Ngục trung nhật ký".                                     Ảnh TL: KIM HÙNG

Khi Hồ Chí Minh và Lê Quảng Ba đến nhà Từ Vĩ Tam, một người anh em kết nghĩa của Hồ Chí Minh ở Pá Mông thì cũng là lúc sắp đến Tết Trung Nguyên (Rằm tháng 7 âm lịch). Từ Vĩ Tam tha thiết mời Hồ Chí Minh và Lê Quảng Ba ở lại ăn tết. Theo phong tục vùng này, Tết Trung Nguyên cúng vào tối ngày 14/7 âm lịch. Tối hôm đó, Từ Vĩ Tam có mời một số người thân quen trong vùng đến ăn tết, trong đó có Dương Đào, năm ấy mới 19 tuổi. Thấy chân Lê Quảng Ba còn sưng tấy, Dương Đào chủ động nói:

- Sáng mai, cháu xin đi với Hồ bá bá (Hồ Chí Minh) đến Bình Mã. Cháu thuộc đường đi Bình Mã.

Mọi người nhất trí để Dương Đào thay Lê Quảng Ba tháp tùng Hồ bá bá đi Bình Mã.

Sáng ngày 27/8/1942, hai bác cháu rời nhà Từ Vĩ Tam lên đường nhắm hướng Đức Bảo rảo bước. Đến Đức Bảo thì hai người bị cảnh sát Quốc dân đảng đón bắt. Cụ Tôn Phúc Vinh, nhân chứng trong vụ này, về sau kể lại: "Chợ chiều đã vãn, chúng tôi đang chơi cầu ở đầu chợ thì thấy hai bố con ông già đi tới. Bỗng không biết từ đâu, cảnh sát Mã Hiếu Vinh xông ra chặn lại, đòi xem giấy tờ của hai bố con ông già. Chúng tôi bỏ chơi cầu, chạy lại chỗ ông già đang lục túi lấy giấy tờ trình cảnh sát. Sau đó, có nhiều người kéo đến xem. Ông già rất ung dung, bình tĩnh. Còn Dương Đào thì rất bực bội, khó chịu..."

Trời tối dần, tên cảnh sát vẫn không chịu để Hồ Chí Minh và Dương Đào đi. Lát sau, có một tên cảnh sát nữa hầm hè, xồng xộc tới. Chúng đưa Hồ Chí Minh và Dương Đào về trụ sở thôn. Từ trụ sở thôn, chúng lại đưa hai người về nhà Hoàng Chí Quang, rồi nhà Lục Văn Phối, cách phố chợ Túc Vinh chừng 500 m. Sáng hôm sau, khoảng 9 giờ có hai cảnh sát trên huyện xuống Túc Vinh dẫn Hồ Chí Minh và Dương Đào về huyện.

Khi bị cảnh sát Quốc dân đảng đón bắt ở Túc Vinh, Hồ Chí Minh có mang theo các loại giấy tờ tùy thân như sau:

- Danh thiếp mang tên Hồ Chí Minh - "Phân xã Việt Nam hội Quốc tế chống xâm lược".

- Danh thiếp mang tên Hồ Chí Minh - Ký giả Thông tấn xã Quốc tế.

- "Giấy thông hành đặc biệt" dùng trong quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc của Đệ tứ chiến khu do Tư lệnh Đệ tứ chiến khu tướng Trương Phát Khuê ký (giấy này đã quá thời hạn sử dụng).

Ngày 1/9/1942 là ngày có chợ phiên Tịnh Tây, cũng là ngày Hồ Chí Minh và Dương Đào bị nhà cầm quyền huyện Đức Bảo theo lệnh của Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu áp giải Người trở lại Tịnh Tây.

Bà chị ruột ông Từ Vĩ Tam đang trên đường vào chợ, chợt thấy Hồ Chí Minh và Dương Đào bị xích tay, có hai cảnh sát đi kèm giải về phía huyện đường. Lập tức bà bỏ buổi chợ, chạy gấp về nhà báo cho em trai là Từ Vĩ Tam và Lê Quảng Ba biết. Hôm sau, Vương Tích Cơ (một người anh em kết nghĩa với Hồ Chí Minh) cùng Lê Quảng Ba nhờ một người quen làm việc ở huyện đường Tịnh Tây, bí mật vào nhà giam gặp Hồ Chí Minh. Ngày hôm sau, mặc dầu chân đang còn đau, Lê Quảng Ba khẩn trương về Pác Bó, Cao Bằng báo cho các đồng chí ở nhà biết tin dữ và truyền đạt những lời dặn dò của Người.

Sau đó, nhiều kiến nghị của Việt Kiều ở Côn Minh, Long Châu tới tấp bay về Trùng Khánh đòi Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng trả tự do cho Hồ Chí Minh. Kiều bào ta không cần biết Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc hay không, chỉ biết đây là một nhà yêu nước trong "Phân hội Việt Nam hội Quốc tế chống xâm lược". Những bức điện của "Phân hội Việt Nam hội Quốc tế chống xâm lược" cũng từ biên giới Việt - Trung bay về Trùng Khánh yêu cầu Tổng thống Tưởng Giới Thạch trả tự do cho Hồ Chí Minh. Đặc biệt, có hai vị tướng quan trọng trong Tổng hành dinh của Tưởng Giới Thạch là Lý Tôn Nhân và Phùng Ngọc Tường đã đến gặp trực tiếp Tưởng Giới Thạch, yêu cầu trả tự do cho Hồ Chí Minh.

Có một người Việt Nam biết rõ Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, đó là Hồ Học Lãm, người xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Hồ Học Lãm đi theo tiếng gọi Đông Du của Phan Bội Châu. Theo sự hướng dẫn của Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm đã hăng hái tham gia quân đội của Tôn Trung Sơn. Trong một trận chiến thời kỳ Bắc phạt, ông đã chỉ huy một trung đoàn giải vây cho trung đoàn của Tưởng Giới Thạch thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt. Tưởng Giới Thạch khi kế vị Tôn Trung Sơn làm Tổng thống Trung Hoa dân quốc vẫn nhớ đến Hồ Học Lãm như một ân nhân cứu mạng.

Tháng 1/1936, Hồ Học Lãm đã sáng lập ra tổ chức Việt Nam độc lập vận động đồng minh hội để hợp pháp hoá hoạt động của người cộng sản Việt Nam đang sống ở Trung Quốc.

Cuối năm 1939, trên đường đi Trùng Khánh, Thiếu tá Hồ Quang (Nguyễn Ái Quốc) đã bí mật đến thăm Hồ Học Lãm đang dưỡng bệnh ở Quế Dương, thủ phủ tỉnh Quý Châu. Biết vậy, Hồ Học Lãm nói với vợ (Ngô Khôn Duy) và con gái (Hồ Diệc Lan): "Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc là hồng phúc nước Việt Nam sắp đến rồi".

Đầu tháng 9/1942, Hồ Học Lãm đang dưỡng bệnh ở Quế Lâm, nhận được điện của Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) gửi từ biên giới Việt - Trung: "Lão đồng chí Hồ Chí Minh mất tích tại biên giới, mong Cụ tìm cách cứu". Nhận được bức điện, Hồ Học Lãm phẫn nộ nói với vợ và con gái: "Chúng nó đã bắt giữ Nguyễn Ái Quốc rồi!". Ông bảo bà vợ viết một lá thư, ông ký tên gửi cho Tưởng Giới Thạch yêu cầu trả tự do cho Hồ Chí Minh.

Bà Ngô Khôn Duy còn cho con gái Hồ Diệc Lan đưa tin công khai vụ việc này trên báo "Phụ nữ Quảng Tây", nơi chị đang làm việc, công khai trước dư luận tiến bộ, đề phòng nhà chức trách của chính quyền Tưởng Giới Thạch dở trò ám muội thủ tiêu Hồ Chí Minh. Đồng thời bà còn bày cách cho Hồ Diệc Lan lấy danh nghĩa phóng viên xin vào các nhà giam ở Quảng Tây để dò xem Nguyễn Ái Quốc bị giam ở đâu để tìm cách cứu Người. Bà Ngô Khôn Duy dặn con gái: "Người nào trán cao, mũi thẳng, mắt sáng quắc, dong dỏng cao, thần thái thoát dục thì đấy là Hồ Chí Minh".

Trước sức mạnh đấu tranh của các tổ chức cách mạng trong nước, của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhiều nhân sĩ tiến bộ trong hàng ngũ Quốc dân đảng, dư luận tiến bộ trên thế giới, Tổng thống Tưởng Giới Thạch buộc phải trả tự do cho Hồ Chí Minh.

Ngày 10/9/1943, tướng Hầu Chí Minh - Bí thư Chủ nhiệm Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu vào nhà biệt giam Hồ Chí Minh ở Liễu Châu trực tiếp thông báo lệnh của Tổng thống Tưởng Giới Thạch trả tự do cho Người.

Tưởng Giới Thạch tuy buộc phải trả tự do cho Hồ Chí Minh, nhưng không để Người tự do về nước, vì theo ông ta, làm như vậy là "chắp cánh thêm cho đại bàng". Tưởng Giới Thạch đã chỉ thị cho tướng Trương Phát Khuê "giữ khéo" Hồ Chí Minh ở lại Liễu Châu để quan hệ với "Việt Cách", "Việt Quốc", gieo sự rắc rối nghi ngờ trong nội bộ Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh ý thức được rằng: Nếu cứ nằng nặc yêu cầu về Việt Nam, thì không an toàn trên con đường dài hơn 600 cây số từ Liễu Châu đến biên giới Việt - Trung.

Cuối tháng 10/1943, theo yêu cầu của tướng Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội - tổ chức của người Việt Nam tại Trung Quốc, gồm nhiều đảng phái, được sự hỗ trợ của Đệ tứ chiến khu do tướng Trương Phát Khuê trực tiếp chỉ đạo.

Hồ Chí Minh rất tài tình vận dụng "dĩ bất bất, ứng vạn biến", vui vẻ chấp nhận lời mời. Do khôn khéo tranh thủ được sự đồng tình của tướng Trương Phát Khuê, đến ngày 9/8/1944, Hồ Chí Minh rời Liễu Châu và cuối tháng 9/1944 Người về đến Cao Bằng an toàn.

Khi sự kiện "Túc Vinh" xảy ra ngày 27/8/1942, Hồ Chí Minh đã ở tuổi 52, đang bước sang tuổi 53, là tuổi "Tri thiên mệnh". Người bị bọn Quốc dân đảng coi là "kẻ phá hoại" nền chính trị của chúng, sự sống và cái chết hoàn toàn nằm trong tay chúng, bị chúng tước đoạt quyền làm người. Trong cảnh ngộ bức bách đó, Hồ Chí Minh vẫn làm thơ. Trong quãng thời gian dài 379 ngày (27/9/1942 - 10/9/1943), Hồ Chí Minh đã làm 134 bài thơ, gọi là "Nhật ký trong tù".

Với tập "Nhật ký trong tù", Hồ Chí Minh là người tù làm thơ và chỉ viết về hoàn cảnh tù đày của mình và những bạn tù chung cảnh ngộ. Tính hướng nội là đặc trưng cơ bản xuyên suốt tập thơ, thể hiện ngay trong bài thơ viết về sự kiện Người bị bắt ở Túc Vinh:

"Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý làm cho chậm bước mình;
Bịa đặt vu ta là gián điệp,
Không dưng danh dự phải hy sinh ".

Sự kiện "Túc Vinh" mở đầu sự giam cầm, đày ải qua 18 nhà tù, 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây. Hồ Chí Minh rất trầm tĩnh để đón nhận những thủ đoạn sẽ diễn ra, Người đã xác định chắc chắn rằng:

"Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao ".

Hồ Chí Minh còn vẽ hai bàn tay nắm chặt, gân guốc, cổ tay bị xiềng xích, giơ cao rắn rỏi, quyết liệt, thể hiện ý chí sắt đá không bao giờ lùi bước trước kẻ thù tàn bạo.

Đối mặt trực tiếp với kẻ thù, nhưng luôn tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng, tin tưởng sắt đá vào thắng lợi tất yếu, vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vượt qua tất cả những khó khăn, đã trở về Tổ quốc an toàn, tiếp tục đưa đất nước đến bến bờ thắng lợi vinh quang trọn vẹn.
Nhà thơ lớn Viên Ưng (Trung Quốc) cho rằng Tập thơ "Nhật ký trong tù" là thơ của con người "đại nhân, đại trí, đại dũng" viết ra.

Nhà thơ Phê-lít Pi-ta Rô-đơ-ri Ghét (Cu Ba) viết lời tựa bản dịch "Nhật ký trong tù" sang tiếng Tây Ban Nha có đoạn: "Những lời đẹp đẽ đó (từ thơ) dường như Người nghĩ ra và để viết riêng cho "Nhật ký trong tù". Đúng, một con người, nhưng đây là một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được nâng lên làm cho nó có một tầm vóc lớn, mà mọi người như thấy có một cái gì thật cao xa, xuất chúng, có một sức mạnh thuyết phục lạ lùng..."

Sự kiện "Túc Vinh" và thi phẩm nổi tiếng "Nhật ký trong tù" đến nay đã có tuổi thời gian 70 năm. Sự kiện lịch sử này, thi phẩm độc đáo này đã góp phần quan trọng làm cho tầm vĩ đại của Hồ Chí Minh được cả nhân loại ngưỡng mộ!


Trần Minh Siêu