Giá vàng chiều nay 30/8/2025: Chốt tuần ở kỷ lục 130 triệu
Giá vàng chiều nay 30/8/2025: Giá vàng miếng tiếp tục tăng chốt tuần ở mức kỷ lục 130 triệu, giá vàng nhẫn và giá vàng thế giới cũng liên tục lập đỉnh cao mới
Giá vàng trong nước chiều nay 30/8/2025
Tính đến 14h00 chiều nay 30/8/2025, giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng phá kỷ lục lên 130 triệu đồng/lượng. Cụ thể:
Giá vàng miếng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết ở ngưỡng 129,1 - 130,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 1,7 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Cùng thời điểm, giá vàng miếng được Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC niêm yết ở ngưỡng 129,1 - 130,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với chốt ngày 29/8 hôm qua.
Còn tại Công ty Vàng bạc đá quý Mi Hồng, giá vàng Mi Hồng thời điểm khảo sát niêm yết giá vàng SJC ở mức 129,6-130,6 triệu đồng/lượng chiều mua vào - bán ra. So với hôm qua, giá vàng tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua - tăng 1,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Giá vàng miếng tại Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu được doanh nghiệp giao dịch ở mức 129,1 - 130,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cùng kỳ hôm qua.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý được doanh nghiệp giao dịch ở mức 128,1-130,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giá vàng tăng 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.

Tính đến 14h00 ngày 30/8/2025, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI niêm yết ở ngưỡng 122,5-125,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra); tăng 1,9 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn ở ngưỡng 122,6-125,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra); tăng 1,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Bảng giá vàng chiều nay 30/8/2025 mới nhất như sau:
Giá vàng chiều nay | Ngày 30/8/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
SJC tại Hà Nội | 129,1 | 130,6 | +1300 | +1300 |
Tập đoàn DOJI | 129,1 | 130,6 | +1700 | +1700 |
Mi Hồng | 129,6 | 130,6 | +1200 | +1300 |
PNJ | 129,1 | 130,6 | +1300 | +1300 |
Bảo Tín Minh Châu | 129,1 | 130,6 | +1300 | +1300 |
Phú Quý | 128,1 | 130,6 | +1300 | +1300 |
1. DOJI - Cập nhật: 30/8/2025 14:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
AVPL/SJC HN | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
AVPL/SJC HCM | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
AVPL/SJC ĐN | 129,100 ▲1700K | 130,600 ▲1700K |
Nguyên liệu 9999 - HN | 114,400 ▲1900K | 115,400 ▲1900K |
Nguyên liệu 999 - HN | 114,300 ▲1900K | 115,300 ▲1900K |
2. PNJ - Cập nhật: 30/8/2025 14:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Vàng miếng SJC 999.9 | 129,100 ▲1300K | 130,600 ▲1300K |
Nhẫn Trơn PNJ 999.9 | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Vàng Kim Bảo 999.9 | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Vàng PNJ - Phượng Hoàng | 122,500 ▲1800K | 125,400 ▲1800K |
Vàng nữ trang 999.9 | 120,000 ▲500K | 122,500 ▲500K |
Vàng nữ trang 999 | 119,880 ▲500K | 122,380 ▲500K |
Vàng nữ trang 9920 | 119,120 ▲500K | 121,620 ▲500K |
Vàng nữ trang 99 | 118,880 ▲500K | 121,380 ▲500K |
Vàng 916 (22K) | 109,810 ▲460K | 112,310 ▲460K |
Vàng 750 (18K) | 84,530 ▲380K | 92,030 ▲380K |
Vàng 680 (16.3K) | 75,950 ▲340K | 83,450 ▲340K |
Vàng 650 (15.6K) | 72,280 ▲330K | 79,780 ▲330K |
Vàng 610 (14.6K) | 67,380 ▲310K | 74,880 ▲310K |
Vàng 585 (14K) | 64,310 ▲290K | 71,810 ▲290K |
Vàng 416 (10K) | 43,610 ▲210K | 51,110 ▲210K |
Vàng 375 (9K) | 38,590 ▲190K | 46,090 ▲190K |
Vàng 333 (8K) | 33,080 ▲170K | 40,580 ▲170K |
3. SJC - Cập nhật: 30/8/2025 14:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▲/▼ So với ngày hôm qua. | ||
Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 129,100▲1300K | 130,600▲1300K |
Vàng SJC 5 chỉ | 129,100▲1300K | 130,620▲1300K |
Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 129,100▲1300K | 130,630▲1300K |
Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 122,500▲1500K | 125,100▲1500K |
Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 122,500▲1500K | 125,000▲1500K |
Nữ trang 99,99% | 121,500▲1000K | 123,500▲1000K |
Nữ trang 99% | 117,277▲990K | 122,277▲990K |
Nữ trang 68% | 76,638▲680K | 84,138▲680K |
Nữ trang 41,7% | 44,154▲417K | 51,654▲417K |
Giá vàng thế giới chiều nay 30/8/2025 và biểu đồ biến động giá vàng thế giới 24h qua
Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 14h00 ngày 30/8 theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 3449,37 USD/ounce. Giá vàng chiều nay tăng 39,13 USD/Ounce so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26,502 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 110,2 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng đang cao hơn giá vàng quốc tế 20,4 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới đang trên đà tăng mạnh trong tháng 8 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng vào tuần sau. Nguyên nhân chính đến từ việc đồng USD giảm giá và những kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9.
Cụ thể, giá vàng giao ngay tăng 1,15%, đây là mức cao nhất kể từ ngày 17/7. Như vậy, trong suốt tháng 8, giá vàng đã tăng 2,31%. Hợp đồng tương lai vàng Mỹ kỳ hạn tháng 12 cũng tăng 1,2%, đóng cửa ở mức 3,516.1 USD/ounce.
Đồng USD hầu như không thay đổi trong ngày, nhưng được dự báo sẽ giảm 2,2% trong cả tháng. Khi đồng USD suy yếu, việc mua vàng bằng các loại tiền tệ khác trở nên rẻ hơn, và điều này thường hỗ trợ giá vàng.
Tình hình kinh tế Mỹ cho thấy chi tiêu của người tiêu dùng tăng mạnh trong tháng 7, trong khi lạm phát cơ bản cũng tăng lên do thuế nhập khẩu đẩy giá một số mặt hàng lên cao. Chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 2.6% so với cùng kỳ năm ngoái, đều phù hợp với dự báo của giới phân tích.
Dữ liệu này củng cố mạnh mẽ kỳ vọng rằng Fed sẽ cắt lãi suất. Theo David Meger, Giám đốc Giao dịch Kim loại tại High Ridge Futures, kỳ vọng về một hoặc hai lần cắt giảm lãi suất trong năm nay thường có tác động tích cực đến giá cả hàng hóa nói chung, bao gồm cả vàng và bạc.
Các nhà giao dịch cũng tự tin hơn vào khả năng này. Tỷ lệ dự đoán về một đợt cắt giảm lãi suất 0.25% vào cuộc họp chính sách tháng Chín của Fed đã tăng lên gần 89%, từ mức 85% trước khi dữ liệu được công bố. Vàng là tài sản không sinh lãi, vì vậy nó thường trở nên hấp dẫn hơn trong môi trường lãi suất thấp.
Một yếu tố khác góp phần vào sự biến động là những tranh cãi xung quanh tính độc lập của Fed. Một thẩm phán liên bang sẽ xem xét liệu có tạm thời ngăn Tổng thống Trump sa thải Thống đốc Fed Lisa Cook hay không. Sự không chắc chắn này khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một nơi trú ẩn an toàn.
Ngân hàng Commerzbank cho biết dòng tiền đổ vào các quỹ ETF vàng gần 15 tấn trong hai ngày qua phản ánh điều đó, dù họ cũng nhận định mức tăng trên 3,400 USD có vẻ đang dần chững lại.
Bên cạnh giá vàng, giá bạc giao ngay tăng 1,7% lên 39,77 USD/ounce, bạch kim tăng 0,3% lên 1,362.86 USD/ounce, và cả hai đều ghi nhận mức tăng trong tháng. Trái ngược, palladium hầu như không thay đổi ở mức 1,102.08 USD/ounce và được dự báo sẽ giảm giá trong tháng.