Giá vàng chiều nay 29/8/2025: Mốc 130 triệu không còn xa
Giá vàng chiều nay 29/8/2025: Giá vàng miếng tiếp tục tăng, mốc 130 triệu không còn xa, giá vàng nhẫn và giá vàng thế giới cũng liên tục lập các kỷ lục mới
Giá vàng trong nước chiều nay 29/8/2025
Tính đến 16h00 chiều nay 29/8/2025, giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng phá kỷ lục lên gần 130 triệu đồng/lượng. Cụ thể:
Giá vàng miếng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết ở ngưỡng 127,4 - 128,9 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 400 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Cùng thời điểm, giá vàng miếng được Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC niêm yết ở ngưỡng 127,8 - 129,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 800 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với chốt ngày 28/8 hôm qua.
Còn tại Công ty Vàng bạc đá quý Mi Hồng, giá vàng Mi Hồng thời điểm khảo sát niêm yết giá vàng SJC ở mức 128,4-129,3 triệu đồng/lượng chiều mua vào - bán ra. So với hôm qua, giá vàng tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua - tăng 1,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Giá vàng miếng tại Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu được doanh nghiệp giao dịch ở mức 127,8 - 129,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), mức giá tăng 800 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cùng kỳ hôm qua.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý được doanh nghiệp giao dịch ở mức 126,8-129,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giá vàng tăng 800 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.

Tính đến 16h00 ngày 29/8/2025, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng tại DOJI niêm yết ở ngưỡng 120,6-123,6 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra); tăng 300 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn ở ngưỡng 121,2-124,2 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra); tăng 900 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với hôm qua.
Bảng giá vàng chiều nay 29/8/2025 mới nhất như sau:
Giá vàng chiều nay | Ngày 29/8/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
SJC tại Hà Nội | 127,8 | 129,3 | +800 | +800 |
Tập đoàn DOJI | 127,4 | 128,9 | +400 | +400 |
Mi Hồng | 128,4 | 129,3 | +1200 | +1100 |
PNJ | 127,8 | 129,3 | +800 | +800 |
Bảo Tín Minh Châu | 127,8 | 129,3 | +800 | +800 |
Phú Quý | 126,8 | 129,3 | +800 | +800 |
1. DOJI - Cập nhật: 29/8/2025 16:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
AVPL/SJC HN | 127,400 ▲400K | 128,900 ▲400K |
AVPL/SJC HCM | 127,400 ▲400K | 128,900 ▲400K |
AVPL/SJC ĐN | 127,400 ▲400K | 128,900 ▲400K |
Nguyên liệu 9999 - HN | 112,500 ▲300K | 113,500 ▲500K |
Nguyên liệu 999 - HN | 112,400 ▲300K | 113,400 ▲500K |
2. PNJ - Cập nhật: 29/8/2025 16:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
Vàng miếng SJC 999.9 | 127,800 ▲800K | 129,300 ▲800K |
Nhẫn Trơn PNJ 999.9 | 120,700 ▲500K | 123,600 ▲500K |
Vàng Kim Bảo 999.9 | 120,700 ▲500K | 123,600 ▲500K |
Vàng Phúc Lộc Tài 999.9 | 120,700 ▲500K | 123,600 ▲500K |
Vàng PNJ - Phượng Hoàng | 120,700 ▲500K | 123,600 ▲500K |
Vàng nữ trang 999.9 | 119,500 ▲200K | 122,000 ▲200K |
Vàng nữ trang 999 | 119,380 ▲200K | 121,880 ▲200K |
Vàng nữ trang 9920 | 118,380 ▲200K | 120,880 ▲200K |
Vàng nữ trang 99 | 118,380 ▲200K | 120,880 ▲200K |
Vàng 916 (22K) | 109,350 ▲180K | 111,850 ▲180K |
Vàng 750 (18K) | 84,150 ▲150K | 91,650 ▲150K |
Vàng 680 (16.3K) | 75,610 ▲140K | 83,110 ▲140K |
Vàng 650 (15.6K) | 71,950 ▲130K | 79,450 ▲130K |
Vàng 610 (14.6K) | 67,070 ▲120K | 74,570 ▲120K |
Vàng 585 (14K) | 64,020 ▲120K | 71,520 ▲120K |
Vàng 416 (10K) | 43,400 ▲80K | 50,900 ▲80K |
Vàng 375 (9K) | 38,400 ▲70K | 45,900 ▲70K |
Vàng 333 (8K) | 32,910 ▲70K | 40,410 ▲70K |
3. SJC - Cập nhật: 29/8/2025 16:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▲/▼ So với ngày hôm qua. | ||
Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 127,800▲800K | 129,300▲800K |
Vàng SJC 5 chỉ | 127,800▲800K | 129,320▲800K |
Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 127,800▲800K | 129,330▲800K |
Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 121,000▲900K | 123,600▲900K |
Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 121,000▲900K | 123,500▲900K |
Nữ trang 99,99% | 120,500▲900K | 122,500▲900K |
Nữ trang 99% | 116,287▲891K | 121,287▲891K |
Nữ trang 68% | 75,958▲612K | 83,458▲612K |
Nữ trang 41,7% | 43,737▲375K | 51,237▲375K |
Giá vàng thế giới chiều nay 29/8/2025 và biểu đồ biến động giá vàng thế giới 24h qua
Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 16h00 ngày 29/8 theo giờ Việt Nam giao ngay ở mức 3412,25 USD/ounce. Giá vàng chiều nay tăng 19,4 USD/Ounce so với hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26,502 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 109 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Như vậy, giá vàng miếng đang cao hơn giá vàng quốc tế 20,3 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới đang trên đà tăng mạnh trong tháng 8 và được dự báo sẽ tiếp tục tăng vào tuần sau. Nguyên nhân chính đến từ việc đồng USD giảm giá và những kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9.
Cụ thể, giá vàng giao ngay tăng 0,57%, sau khi chạm mức cao nhất kể từ ngày 11/8. Giá vàng tương lai giao vào tháng 12 lại giảm nhẹ 0,12% xuống 3.470,05 USD/ounce.
Giá vàng thế giới gần đây có xu hướng tăng lên, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố kinh tế và chính trị. Một trong những nguyên nhân đến từ các số liệu kinh tế quan trọng của Hoa Kỳ. Báo cáo mới công bố cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong quý II vừa qua đạt 3.3%, cao hơn so với dự báo ban đầu và vượt kỳ vọng của nhiều chuyên gia.
Bên cạnh đó, thị trường lao động Mỹ cũng thể hiện sức mạnh khi số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp giảm nhẹ so với dự kiến. Điều này cho thấy nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng ổn định, nhưng đồng thời cũng khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể cân nhắc duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ thêm một thời gian nữa, gây áp lực gián tiếp lên giá vàng.
Một yếu tố then chốt khác hỗ trợ đà tăng của giá vàng là kỳ vọng đồng USD sẽ tiếp tục suy yếu. Nhiều chuyên gia, trong đó có các nhà phân tích từ Bank of America, dự báo giá vàng có khả năng tiến dần tới ngưỡng 4,000 USD/ounce.
Các chuyên gia nhận định rằng vàng đang là lựa chọn được ưa chuộng của giới đầu tư trong bối cảnh dự báo Mỹ sắp bước vào giai đoạn nới lỏng chính sách tiền tệ, dự kiến bắt đầu từ tháng tới. Những phát biểu gần đây của các quan chức Fed càng củng cố thêm kỳ vọng này.
Thống đốc Christopher Waller đã công khai ủng hộ một đợt cắt giảm lãi suất vào tháng 9 và cho rằng có thể sẽ có thêm những đợt cắt giảm tiếp theo. Theo tính toán của thị trường, khả năng Fed hạ lãi suất 0.25% vào tháng tới lên tới 86%.
Tại thị trường trong nước, dù Chính phủ đã có chính sách bãi bỏ cơ chế độc quyền vàng miếng nhằm kỳ vọng giảm giá, nhưng trên thực tế giá vàng vẫn tiếp tục tăng cao. Nguyên nhân được cho là nguồn cung chưa đáp ứng kịp nhu cầu trong nước vốn rất lớn. Cần có thời gian để các thay đổi chính sách phát huy hiệu quả và giúp giá vàng trong nước dần tiệm cận với mức giá thế giới.
Bên cạnh giá vàng, giá bạc giao ngay giảm 0,6% xuống 38,82 USD/ounce. Giá bạch kim giảm 1,2% còn 1.343,80 USD/ounce, trong khi paladium giảm 0,4%, xuống 1.097,73 USD/ounce.